chương 1 Trong chương này, luận văn đã trình bày tổng quan về nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến đạo đức nghề nghiệp kế toán. Đồng thời, luận văn cũng khái quát hóa nghiên cứu thực hiện trên thế giới và Việt Nam về nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán. Luận văn đã tổng kết những các kết quả nghiên cứu trước về yếu tố tác động đến đạo đức nghề nghiệp kế toán từ đó có sự kế thừa cũng như phân tích và tìm ra những điểm mới để vận dụng tại Việt Nam. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN 2.
Tổng quan về đạo đức nghề nghiệp 2. Khái niệm về đạo đức Theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân với cá nhân và cá nhân với xã hội” Đạo đức được hiểu theo các nghĩa sau đây: + Nghĩa hẹp: Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình. + Nghĩa rộng: Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2002: “Đạo đức là những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”, “là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những chuẩn mực đạo đức mà có”. Theo quan niệm phổ thông: “Đạo đức là những phép tắc, căn cứ vào chế độ kinh tế, chế độ chính trị mà đặt ra, quy định quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội cốt để bảo vệ chế độ kinh tế, chế độ xã hội”.
Qua đó chúng ta thấy rằng, dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa thì: Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực ứng xử được xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ giữa con người với con người, con người đối với xã hội, đối với tự nhiên và với bản thân mình nữa sao cho phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội. 15 Cùng quan điểm, ở những góc độ khác nhau của đời sống, cách nhận thức đạo đức cũng khác nhau. Đạo đức xã hội có chức năng giáo dục, điều chỉnh và nhận thức. Từ nhận thức về các quy luật, bản chất, khái niệm đạo đức để nhận thức lại đạo đức của mình.
Đạo đức chỉ xuất hiện nơi nào có mối quan hệ (quan hệ giữa cá nhân – cá nhân, cá nhân – tập thể, …), hành vi điều chỉnh các mối quan hệ luôn tự giác, mối quan hệ của đạo đức là mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan của con người nhưng đạo đức bản thân có ý nghĩa nhân sinh quan. Đó cũng chính là quy luật của đạo đức và nội dung của đạo đức do tồn tại xã hội quyết định. Bản chất của đạo đức xã hội là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là sự điều chỉnh mối quan hệ xã hội, là biện pháp giải quyết và khắc phục các mâu thuẫn xã hội làm cho xã hội phát triển tiến bộ. Trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức đều cho rằng đạo đức là không thể thiếu trong xã hội vì nó chính là cơ sở để xã hội phát triển một cách bền vững và tốt đẹp.
Tiêu biểu như nhà kinh tế học Adam Smith (1790/1976) và nhà xã hội học Georg Simmel (1950), cá nhân có đạo đức, xã hội có đạo đức là cơ sở mà ở đó tất cả các xã hội và nền kinh tế phát triển mạnh vì đạo đức đồng nghĩa với việc tạo ra sự hài hòa xã hội. Ở cấp độ tổng hợp, đạo đức có liên quan đến những tố chất căn bản do các tổ chức, cộng đồng và các nền văn hóa thiết lập (Cameron et al. Libby and Thorne (2007), đạo đức là chuẩn mực liên quan đến phẩm chất, phản ánh xu hướng của một cá nhân khi chọn lựa hành động hợp với đạo lý, và bằng cách đó thể hiện những lý tưởng của cộng đồng mà cá nhân đó thuộc về. Đạo đức được phát triển trong suốt cuộc đời thông qua thói quen, quan sát và giáo dục.
Đạo đức đòi hỏi việc theo đuổi đạo lý vượt ra ngoài sự phụ thuộc vào các quy tắc và là kết quả từ một định nghĩa chung các giá trị của một cộng đồng cụ thể. Khái niệm về đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một bộ phận của đạo đức nghề nghiệp xã hội, là đạo đức cụ thể trong đạo đức chung của xã hội. Đạo đức nghề nghiệp xuất hiện có tên gọi khoa học về cách sử dụng nghề nghiệp của con người (De1on: bổn phận cần phải làm, logos: học thuyết – Déontologic được nhà triết học Anh Jeremy Bentham (1748-1832) sử dụng có ý nghĩa là nghĩa vụ luận, đạo đức nghề nghiệp). Đạo đức nghề nghiệp là những yêu cầu đạo đức đặc biệt, có liên quan đến việc tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào đó.
Là tổng hợp của các quy tắc, các nguyên tắc chuẩn mực của một lĩnh vực nghề nghiệp trong đời sống, nhờ đó mà mọi thành viên của lĩnh vực nghề nghiệp đó tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích và sự tiến bộ của nó trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, với xã hội,… Tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp. Phẩm chất đạo đức cá nhân trong xã hội đều có nét chung, như đạo đức trong trong lĩnh vực nghề nghiệp có những đặc thù và yêu cầu riêng biệt. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp kế toán Đạo đức nghề nghiệp kế toán được định nghĩa là những quy tắc để hướng dẫn cho các thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội. Đạo đức nghề nghiệp yêu cầu kế toán viên phải là người có đạo đức, và mỗi tổ chức phải là cộng đồng của những người có đạo đức.
Bên cạnh luật pháp và cùng với luật pháp, chính việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho các thành viên luôn duy trì được một thái độ nghề nghiệp đúng đắn, giúp bảo vệ và nâng cao uy tín cho nghề kế toán trong xã hội, bởi vì nó tạo nên sự bảo đảm về chất lượng cao của dịch vụ cung ứng cho khách hàng và xã hội. 17 Tóm lại, đạo đức nghề nghiệp kế toán có thể được khái niệm là “những quy tắc để hướng dẫn cho người làm công tác kế toán về ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp kế toán và xã hội”. Các nguyên tắc cơ bản của đạo đức nghề nghiệp kế toán Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kế toán được quy định trong Quy tắc đạo đức nghề nghiệp kế toán Việt Nam theo Thông tư số 70/2015/TT-BTC ngày 08 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài chính. Tính chính trực: Phải thẳng thắn, trung thực trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh; Tính khách quan: Không cho phép sự thiên vị, xung đột lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các xét đoán chuyên môn và kinh doanh của mình; Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Thể hiện, duy trì sự hiểu biết và kỹ năng chuyên môn cần thiết nhằm đảm bảo rằng khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chuyên môn có chất lượng dựa trên những kiến thức mới nhất về chuyên môn, pháp luật và kỹ thuật, đồng thời hành động một cách thận trọng và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật được áp dụng; Tính bảo mật: Phải bảo mật thông tin có được từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh, vì vậy, không được tiết lộ bất cứ thông tin nào cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của bên có thẩm quyền, trừ khi có quyền hoặc nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của pháp luật hoặc cơ quan quản lý hoặc tổ chức nghề nghiệp, và cũng như không được sử dụng thông tin vì lợi ích cá nhân của kế toán viên, kiểm toán viên chuyên nghiệp hoặc của bên thứ ba; Tư cách nghề nghiệp: Phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình.
Vai trò của đạo đức nghề nghiệp kế toán 18 Nghề kế toán có đặc điểm nổi bật là việc chấp nhận trách nhiệm vì lợi ích của công chúng. Do vậy, trách nhiệm của kế toán viên không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng đơn lẻ hoặc doanh nghiệp nơi kế toán viên làm việc mà còn phải nắm được và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp vì lợi ích của công chúng. Đạo đức nghề nghiệp kế toán có vai trò cơ bản như sau: - Nâng cao sự tín nhiệm của xã hội đối với hệ thống thông tin của kế toán; - Tạo ra sự tin cậy cho người sử dụng thông tin tài chính nói riêng và xã hội nói chung; - Nâng cao sự minh bạch, tin cậy thông tin tài chính; - Cung cấp công cụ hữu hiệu giúp các kế toán viên luôn phải tự điều chỉnh bản thân mình, giúp họ đạt được mục tiêu tới mức cao nhất trong công việc; - Tạo lập sự công nhận của chủ doanh nghiệp, tổ chức, khách hàng và các bên liên quan về tính chuyên nghiệp của người làm kế toán; - Hướng dẫn người làm kế toán cách xác định, đánh giá và xử lý các nguy cơ đe dọa sự tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. Từ đó, người làm kế toán có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp để loại bỏ hay làm giảm nhẹ các nguy cơ này xuống mức có thể chấp nhận được để việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản không bị ảnh hưởng; - Là cơ sở để đánh giá mức độ đạo đức nghề nghiệp của người làm kế toán; 2.