chương 1 của đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu trúc vốn, cấu trúc vốn tối ưu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn vốn của doanh nghiệp. Trong số các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn thì yếu tố “Tác động ưu tiên của quản trị” của lý thuyết trật tự phân hạng đã cho rằng không có một cấu trúc vốn mục tiêu riêng và các công ty thích vay nợ hơn phát hành cổ phần. Lập luận này của lý thuyết cũng được khẳng định trong việc phân tích cấu trúc vốn của hai công ty lớn trên thế giới là Coca-cola và IBM. Vì vậy điều quan trọng là doanh nghiệp phải xác định được mình đang nằm trong giai đọan nào để có chiến lược huy động xây dựng cấu trúc vốn hợp lý.
Một yếu tố nữa có lẽ cũng ảnh hưởng không kém đến sự lựa chọn cấu trúc vốn cho doanh nghiệp đó là ý chí chủ quan của nhà quản lý. Nếu tất cả mọi phân tích của bạn đều tốt, bạn xác định được một cấu trúc vốn mang lại giá trị tối ưu cho doanh nghiệp, nhưng người có quyền quyết định lại không thích vay nợ thì bạn cũng đành chịu. Mặc dù lý thuyết về cấu trúc vốn được xem là vấn đề trung tâm của lý thuyết tài chính hiện đại từ thập niên 60, thế kỷ thứ 20, nhưng đây vẫn còn là vấn đề hết sức mới mẻ và chưa thật sự thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế và các nhà quản lý DN trong nước vì một lý do đơn giản nhất là cách thức tài trợ của các DN Việt Nam còn khá đơn điệu, trông chờ vào nguồn vay ngân hàng là chủ yếu. Hơn nữa, do điều kiện nền kinh tế tài chính Việt Nam có những đặc thù khác biệt với những điều kiện giả định trong lý thuyết về cấu trúc vốn nên DN còn nghi ngờ về tính thực tế các lý thuyết này.
Tuy nhiên, lý thuyết cấu trúc vốn đang có cơ hội ứng dụng ở Việt Nam khi số DN cổ phần ngày càng tăng và thị trường tài chính ngày càng phát triển mở rộng hơn. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam qua những bước chập chững ban đầu, cũng đã bắt đầu đi vào hoạt động suôn sẻ hơn, tạo điều kiện cho các DN thực hiện chính sách tài trợ năng động và đa dạng hơn. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 24 CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI SỞ GDCK TP.HỒ CHÍ MINH 2.1 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC VỐN CỦA MỘT SỐ CÔNG TY ĐANG NIÊM YẾT TẠI SỞ GDCK TP.HỒ CHÍ MINH Từ cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn, xem xét cấu trúc vốn của ba công ty đang niêm yết tại Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh. Ba Công ty được chọn phân tích dưới đây là các Công ty có vốn Chủ sở hữu lớn nhất trên thị trường chứng khoán tính đến ngày 31/12/2008.1 Công ty CP FPT (FPT) CÔNG TY CỔ PHẦN FPT có vốn điều lệ là (VND) 1.000, chức năng kinh doanh: Công nghệ thông tin và viễn thông Bảng 2.1: Một số chỉ số tài chính của FPT Công ty FPT có tỉ lệ nợ/tổng tài sản khá lớn.
Năm 2007 và 2008, tỉ lệ nợ ngắn hạn là chủ yếu, nợ dài hạn không đáng kể. Có thể thấy rằng, với quy mô lớn, lợi nhuận ròng cao, tốc độ tăng trưởng tốt, công ty đã tạo được lòng tin đối với các chủ nợ, có lợi thế để đi vay. Nguồn vay nợ ngắn hạn để phục vụ chủ yếu cho việc bổ sung vốn lưu động của công ty. Các khoản đầu tư dài hạn của công ty được tài trợ chủ yếu bằng vốn Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 25 cổ phần.
Qua đợt phát hành cổ phiếu trong năm 2006 tăng vốn điều lệ lên 60 tỉ, thu về thặng dư hơn 525 tỉ đồng, năm 2007 tiếp tục tăng vốn thêm 315 tỉ đồng, năm 2008 tăng vốn điều lệ thêm 18 tỉ đồng bằng phát hành cổ phiếu và 470 tỉ đồng từ thặng dư vốn. Từ nguồn thặng dư vốn năm 2006, một phần công ty đầu tư thêm tài sản cố định và giảm nợ vay, ngoài ra công ty đã đem đầu tư vào các công ty liên doanh, liên kết là 296 tỉ đồng. Tuy nhiên, năm 2008 công ty đã bị giảm 55 tỉ đồng giá trị đầu tư do hoạt động thua lỗ của một vài công ty liên doanh-liên kết. Năm 2009, khi lãi suất cho vay của ngân hàng giảm xuống so với 2008, FPT đã tăng tỉ lệ vay vốn.
Tuy nhiên trong năm 2009 và 2010, FPT đã điều chỉnh cơ cấu vốn vay trong đó vốn vay dài hạn tăng và vốn vay ngắn hạn giảm xuống trong.2 Công ty CP Đầu Tư Công Nghiệp Tân Tạo (ITA) CÔNG TY CP ĐẦU TƯ CÔNG NGHIỆP TÂN TẠO có vốn điều lệ là (VNĐ)1.000, chức năng kinh doanh là: Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng trong Khu công nghiệp Tân Tạo. Đầu Cho thuê đất đã được xây dựng xong cơ sở hạ tầng… Bảng 2.2: Một số chỉ số tài chính của ITA Công ty ITA có tỉ lệ nợ trên tổng tài sản năm 2008 là 23,91% (giảm 9,72% so với năm 2007) do trong năm 2008, công ty tăng vốn điều lệ bằng phát hành thêm cổ phiếu mới và chi trả cổ tức bằng cổ phiếu thưởng. Với số tiền thặng dư qua đợt phát hành 2007 và 2008 công ty đã sử dụng để đầu tư vào các dự án mới của công ty. Do Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 26 ITA là công ty chuyên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà cửa.nên tỉ lệ nợ dài hạn là tương đối cao hơn các công ty khác.
Ngoài ra, để tài trợ cho các dự án của công ty, công ty phải sử dụng nguồn vốn tự có của công ty hơn là đi vay. Tuy nhiên, công ty cũng phải lưu ý việc đầu tư vốn vào cổ phiếu, chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, trong năm 2008, ITA đã phải trích dự phòng giảm giá chứng khoán là hơn 53 tỉ đồng. Tương tự như FPT, khi lãi suất cho vay của ngân hàng giảm xuống so với 2008, ITA cũng đã tăng tỉ lệ vốn vay so với 2008. Trong năm 2009 và 2010, ITA cũng đã điều chỉnh cơ cấu vốn vay trong đó vốn vay dài hạn tăng và vốn vay ngắn hạn giảm xuống trong.3 Công ty CP Sữa Việt Nam (VNM) CÔNG TY CP SỮA VIỆT NAM có vốn điều lệ là (VNĐ) 3.000, chức năng kinh doanh là: Sản xuất và kinh doanh bánh, sữa đậu nành, nước giải khát, sữa hộp, sữa bột, bột dinh dưỡng và các sản phẩm từ sữa khác.3: Một số chỉ số tài chính của VNM Với tỉ lệ nợ/ tổng tài sản là 19,35% trong năm 2008 có thể thấy VNM ít sử dụng đòn cân nợ do công ty có tính thanh khoản cao, nguồn vốn tự có lớn.
Vinamilk là công ty cổ phần hóa đầu tiên thu được thặng dư khổng lồ. Nhờ vào nguồn vốn tự có đó, công ty đã không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, VNM đã đầu tư chứng khoán ngắn hạn gần 180 tỉ đồng và đầu tư chứng khoán dài hạn 543 tỉ đồng, dẫn đến việc phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán là 123 tỉ đồng. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 27 Tương tự như FPT và ITA, VNM cũng gia tăng tỉ lệ vốn vay trong năm 2009 khi lãi suất cho vay của ngân hàng giảm xuống so với 2008.
Tuy nhiên, tỉ lệ vốn vay dài hạn vẫn còn ở mức rất thấp.4 Nhận xét: Cả ba công ty trên không thể đại diện cho toàn bộ TTCK Việt Nam, tuy nhiên đây là các công ty có quy mô lớn, hoạt động kinh doanh chính rất ổn định và đang trên đà phát triển. Mỗi công ty có các đặc điểm riêng do hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, chính vì thế mà cơ cấu vốn của các công ty là không giống nhau. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của ba công ty này không giống nhau, nhưng có thể thấy rằng dưới tác động của các thông tin trên TTCK trong năm 2006 và 2007 các công ty đều đã đầu tư vào các loại chứng khoán ngắn hạn và dài hạn với giá trị khá lớn. Nguồn tiền để đầu tư vào các loại chứng khoán chủ yếu là từ thặng dư vốn qua các đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn.
Bên cạnh việc đầu tư chứng khoán, các công ty cũng đầu tư vào các công ty liên doanh, liên kết.chính vì sự đầu tư dàn trải này dẫn đến hậu quả là các công ty đã phải gánh chịu những khoản chi phí quá lớn, kéo kết quả kinh doanh của công ty xuống. Qua việc phân tích cấu trúc vốn của các công ty, các công ty đều có xu hướng giảm tỉ lệ nợ/tổng tài sản khi thị trường chứng khoán phát triển. Khi cần vốn tài trợ từ bên ngoài, nếu thị trường chứng khoán không thuận lợi các công ty sẽ nghĩ đến vay nợ ngân hàng. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, chính sách lãi suất không ổn định, chi phí lãi vay cao, việc phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng là rất rủi ro.
Để có thể đưa ra các giải pháp xây dựng cơ cấu vốn cho các công ty cần phân tích thêm các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty Việt Nam. Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC CÔNG TY Nghiên cứu này sử dụng số liệu của 45 công ty đang niêm yết trên Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh trước 01/01/2009, 45 Công ty được lấy ngẫu nhiên bao gồm tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Tất cả số liệu tài chính của 45 công ty này được lấy từ báo cáo tài chính của các công ty từ website của Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh. (Danh sách 45 Công ty trong phụ lục “Danh sách 45 công ty niêm yết trên sở GDCK TP.