MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng là một trong những hướng phát triển kinh tế hộ, thoát nghèo và làm giàu cho những người nông dân Việt Nam hiện nay. Đặc biệt trong tình hình diện tích đất canh tác nông nghiệp hạn hẹp và ngày càng giảm đi do tốc độ của đô thị hóa. Người nông dân bị mất đất canh tác cho việc xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp trong khi hầu hết họ không có trình độ và tay nghề để chuyển sang những ngành nghề phi nông nghiệp khác. Do đó, việc đầu tư vào chăn nuôi là hoàn toàn đúng đắn và hợp lý.
Tuy nhiên, sản xuất chăn nuôi tiềm ẩn rất nhiều rủi ro thua lỗ thậm chí mất trắng.Và không phải ai khác ngoài những người nông dân là đối tượng trực tiếp phải đối mặt với những rủi ro đó. Khi có những rủi ro thì người nông dân sẽ phải có những hiểu biết đúng và tìm cách đối phó, hạn chế những tác động từ rủi ro mang lại, hay gọi cách khác đó là nhận thức và ứng xử của hộ với rủi ro. Trên thế giới nghiên cứu rủi ro trong nông nghiệp đã được các nước phát triển quan tâm nhiều vào đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh vào những thập kỷ 70 và 80, đặc biệt là ở Hoa Kỳ , Úc, EU, Canada và một số nước khác. Nghiên cứu rủi ro trong nông nghiệp đang chuyển dần sang các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc,… vào những năm cuối của thế kỷ XX (Anderson, J.
Các nghiên cứu rủi ro của các nước tập trung vào các loại rủi ro như sự biến động của thị trường, tác động qua lại và ảnh hưởng tổng hợp của các loại rủi ro, các chiến lược giảm thiểu rủi ro và vai trò của chính phủ… Tính cho đến thời điểm hiện tại, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp Việt Nam nói chung và các nghiên cứu đặc thù về rủi ro trong ngành chăn nuôi lợn nói riêng còn rất thiếu và yếu. Đáng kể mới 1 chỉ có các nghiên cứu của S. Boqvist và cộng sự (2002); Kristen Van Reeth (2007); Joerg Henning (2008).Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào cơ chế phát sinh rủi ro một số bệnh dịch cụ thể đối với người chăn nuôi.Fahrion và cộng sự (2010) tuy bước đầu xem xét mức độ rủi ro của chuỗi cung ứng thịt lợn nhưng chỉ dừng tại quy mô rất nhỏ, chỉ là một trường hợp nghiên cứu điển hình. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ xem xét tác động và các biện pháp xử lý rủi ro do bệnh dịch chứ chưa đề cập đến nhận thức và ứng xử của người chăn nuôi khi gặp phải rủi ro.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về nhận thức và ứng xử của hộ nông dân với rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn hạn chế. Hiện nay, mới chỉ có một số nghiên cứu tập trung về phân tích rủi ro, nghiên cứu rủi ro để thực hiện bảo hiểm nông nghiệp,… và có một số công ty, doanh nghiệp tham gia vào bảo hiểm cho một số ngành nông nghiệp Việt Nam nhưng không thành công. Hiện tại nhà nước có rất nhiều chính sách hỗ trợ người nông dân nuôi lợn như về thú y, khuyến nông, vốn, kỹ thuật, giống, thị trường, tiêm vacxin phòng và chữa bệnh,… Tuy nhiên những biện pháp này chỉ giảm được một phần rất nhỏ để chống lại rủi ro mà người dân gặp phải, và nó thường mang tính khắc phục bị động hơn là chủ động hạn chế ngay từ ban đầu, chứ chưa tập trung vào nâng cao năng lực và khả năng ứng phó của hộ nhằm hạn chế tác động của rủi ro. Tân Quang là một xã nằm ở phía bắc của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.Đời sống người dân ở đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính.
Chăn nuôi lợn đang dần trở thành ngành sản xuất chính và thu hút sự tham gia của đa số người dân địa phương. Tuy tỷ lệ số hộ tham gia chăn nuôi lớn nhưng chăn nuôi lợn ở xã Tân Quang vẫn còn khá nhiều hạn chế như: quy mô chăn nuôi nhỏ, chủ yếu là chăn nuôi tận dụng,… Bên cạnh đó, trong những năm gần đây chăn nuôi lợn 2 tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về dịch bệnh như: tụ huyết trùng, lở mồm long móng… Trước tình hình hiện nay thì nhận thức và ứng xử của hộ chăn nuôi lợn với các rủi ro dịch bệnh hiện tại như thế nào?Làm thế nào để nâng cao khả năng hiểu biết và ứng phó của hộ với các rủi ro trong chăn nuôi? Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành lựa chọn đề tài “Nhận thức vàứng xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang”.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng chăn nuôi lợn, rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn, nhận thức và ứng xử của hộ nông dân đối với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng nhận thức và ứng xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh và phát triển chăn nuôi lợn của hộ nông dân xã Tân Quang trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro dịch bệnh, nhận thức và ứng xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn; - Đánh giá nhận thức và ứng xử của hộ về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn và thái độ của hộ với rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân ở xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng nhận thức và ứng xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn nhằm phát triển chăn nuôi lợn ở xã Tân Quang trong thời gian tới.3 Câu hỏi nghiên cứu Rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn là gì? 3 Thế nào là nhận thức của người chăn nuôi với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn? Thế nào là ứng xử của người chăn nuôi với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn? Chăn nuôi lợn ở xã Tân Quang trong những năm qua diễn ra như thế nào? Nhận thức của hộ về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn? Ứng xử của hộ với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn? Làm thế nào để nâng cao khả năng hiểu biết và ứng phó của người chăn nuôi lợn với rủi ro dịch bệnh? 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Các hoạt động chăn nuôi lợn; rủi ro dịch bệnh xảy ra trong chăn nuôi lợn,nhận thức vàứng xử của nông dân chăn nuôi lợn đối với rủi ro dịch bệnh, công tác quản lý rủi ro dịch bệnh của các hộ chăn nuôi; - Các hộ nông dân chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Tân Quang huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến chăn nuôi lợn, rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn của các hộ nông dân , nhận thức và ứng xử của hộ nông dân với rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang - Phạm vi về không gian: đề tài tiến hành trên địa bàn xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang - Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp về chăn nuôi, rủi ro, rủi ro dịch bệnh, nhận thức và hành vi ứng xử của hộ nông dân chăn nuôi lợn được thu thập từ năm 2013– 2015. 4 Số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra trong năm 2016 Thời gian nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2016 – 05/2016 5 PHẦN II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA HỘ NÔNG DÂN VỚI RỦI RO DỊCH BỆNH TRONG CHĂN NUÔI LỢN 2.1 Lý luận về nhận thức và ứng xử 2.1 Lý luận về nhận thức Khái niệm về nhận thức Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sang tạo, trên cơ sở thực tiễn. Theo “ Từ điển bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh của thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.
Tóm lại: Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó được bắt đầu từ việc xem xét hiện tượng một cách trực tiếp, tích cực, sáng tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn. Theo đó, nhận thức không phải là một quá trình thuần túy trừu tượng hay thuần túy cụ thể. Nó là sự phản ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người, dưới dạng ý niệm và biểu tượng. Vượt qua ngoài giới hạn của hoạt động thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức.
Đặc điểm của nhận thức Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người có các đặc điểm sau: Nhận thức là quá trình tư duy của con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất. 6 Nhận thức cần phải đi từ cái cá biệt đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tưởng đến bản chất. Bởi vì, có như vậy con người mới đạt tới sự hiểu biết đúng đắn, đầy đủ, chính xác về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới khách quan noi chung. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật cũng cho thấy, trong thế giới, các sự vật, hiện tượng không phải tồn tại biệt lập với nhau, mà trong mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau, cái cá biệt chính là một bộ phận của cái phổ biến và ngược lại, cái phổ biến tự thể hiện mình thông qua cái cá biệt.
Chẳng hạn, không thể hiểu được bản chất của một cá nhân nếu không tìm hiểu bản chất của những cá nhân khác, cũng như mối quan hệ của nó đối với cộng đồng. Quá trình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất giúp con người có thể rút ra những đặc tính chung của một lớp sự vật, qua đó đúc kết thành các khái niệm, phạm trù.