CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan quản trị nhân sự 2.1 Các định nghĩa về quản trị nhân sự Đầu tiên khi nhắc đến khái niệm quản trị nhân sự, không thể không kể đến một khái niệm lâu đời từ Taylor (1911)) – quản lý theo khoa học, học thuyết này có phần trái ngược so với thời đại khi mà nó nhắm vào việc thay đổi cách thức quản lý thủ công, đưa quyết định dựa trên cảm tính bằng các phương pháp có độ chính xác cao và khoa học hơn, ví dụ như việc cẩn thận hơn trong nghiên cứu các cá nhân trong quá trình làm việc để đưa ra “một chuỗi thao tác chính xác hơn trong lĩnh vục khoa học” hay đưa ra cách thức quản lý phù hợp với quy trình cũng như khả năng của từng cá nhân trong tổ chức theo góc nhìn quản trị. Sau hơn một thế kỷ, khái niệm quản trị nhân sự (Personnel Management) đã được định nghĩa theo nhiều khác nhìn khác nhau bởi các học giả, tác giả quan tâm đến lĩnh vực này, trong đó có thể kể đến Ahammad (2017) định nghĩa quản trị nhân sự là một phần trong công tác quản trị của doanh nghiệp, trong đó quản trị nhân sự được định nghĩa bằng khả năng đạt được, sử dụng được và duy trì được sự kỳ vọng, nhu cầu và mong cầu của người lao động. Song song với đó khái niệm mà Ibrahim (2019) đề cập trong sách “Principles of Personnel Management” đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng quản trị nhân sự là việc chuyên môn hóa hoạt động quản trị, thể hiện thông qua sự tập trung vào khâu tuyển dụng và phát triển lực lượng lao động từ đó giúp nguồn nhân lực này trở nên có giá trị hơn đối với doanh nghiệp hay đơn giản hơn là việc sử dụng nguồn lực con người một cách hợp lý.
Từ đó Ibrahim đưa ra mục tiêu của quản trị nhân sự là phát triển một tổ chức, nơi mà lực lượng lao động có thể phát huy các trạng thái cá nhân và nhóm để từ đó cống hiến ngược lại cho tổ chức với khả năng tốt nhất của họ. Tại Việt Nam, khái niệm quản trị nhân sự và quản trị nguồn nhân lực thường được dùng để chỉ chung một hoạt động quản trị, tuy nhiên với tên tiếng Anh của hai ngành này được phân định rõ ràng là Personnel Management (PM) và Human Resource 6 Management (HRM). Theo Ahammad (2017) trước khi quản trị nhân sự - quản trị nguồn nhân lực được gọi là HRM thì trước đó đã qua một quy trình thay đổi cách gọi tên, gồm các tên như sau: Phúc lợi công nghiệp, cải thiện công nghiệp, quản trị nhân sự và còn nhiều tên khác do những học giả khác quan tâm đến chủ đề này. Điều này thể hiện được sự khả biến đối với mọi mặt của xã hội khi mà cùng một chủ thể (hay khái niệm) nhưng khác nhau ở bối cảnh lịch sử, các hoạt động kinh tế và xã hội thì sự thay đổi, đổi mới bắt đầu xuất hiện, ở đây sự thay đổi đó là cách gọi tên của ngành quản trị nhân sự.
Sau khi tiếp thu và học hỏi từ các khái niệm, học thuyết từ những nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện trước đây của các chuyên gia. Tác giả định nghĩa khái niệm quản trị nhân sự như sau: Quản trị nhân sự là việc chú trọng đến cách thức về trong các công tác như xây dựng kế hoạch nhân sự, tuyển dụng, đánh giá, đào tạo – phát triển và hoạt động khen thưởng – xử phạt với mục đích nâng cao hiệu quả về mặt năng lực cũng như sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức mà họ hoạt động.2 Các chức năng chính của quản trị nhân sự Việc tận dụng hợp lý nguồn lực con người mà tổ chức có là nền tảng cho sự tăng trưởng của tổ chức. “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” trong ba yếu tố cổ điển này, chữ “nhân” đại diện cho đối tượng của quản trị nhân sự, chữ “hòa” đại diện mục tiêu mà các chức năng quản trị nhân sự hướng đến. Chữ “hòa” này đã được Klingner và ctg (2015) tại cuốn sách Public Personnel Management phân tích thông qua 4 chức năng tương ứng mới 4 mục đích chính như: Lên kế hoạch (Planning): Mục đích: Lập kế hoạch nhân sự, chuẩn bị ngân sách; quản lý hiệu suất, phân tích công việc, trả lương và phúc lợi Sự thâu được (Acquisition): Mục đích: Tuyển dụng và lựa chọn nhân viên.
Sự phát triển (Development): Mục đích: Đào tạo, phân tích, đánh giá và lãnh đạo nhân sự để tăng tính tự nguyện và khả năng hoàn thành tốt các công việc. 7 Khen thưởng và xử phạt (Sanction): Mục đích: Duy trì sự kỳ vọng và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động với nhau thông qua sự kỷ luật, an toàn và quyền của người lao động. Tóm gọn trong 4 chức năng chính, Klingner và ctg (2015) đã đưa ra một góc nhìn tổng quát về các chức năng của quản trị nhân sự, bao gồm các khâu từ trước khi một người trở thành một nhân sự của tổ chức cho đến các hình thức phát triển, khen thưởng, xử phạt trong quá trình làm việc. Đi sâu hơn vào đó với nghiên cứu của Agunwa và ctg (2019) tại Personnel Management: Implications for the Effectiveness of the School System đã phân tích chi tiết hơn vào các quy trình bằng việc đưa ra 17 chức năng cùng mục đích của các chức năng trong quản trị nhân sự, bài nghiên cứu này được áp dụng vào hệ thống của trường học một cách cụ thể như sau: Quy hoạch nhân sự (Personnel Planning): Đảm bảo cho việc vận hành nhân sự trôi chảy.
Tuyển dụng (Recruitment): Tuyển chọn bước đầu những ứng viên phù hợp. Lựa chọn (Selection): Lựa chọn những ứng viên phù hợp và loại những ứng viên kém phù hợp. Định hướng (Orientation): Giúp nhân viên hiểu về yêu cầu công việc cũng như văn hóa, giá trị cốt lõi của tổ chức. Đào tạo và phát triển (Training and Development): Nhằm nâng cao hiệu quả của nhân viên và mức tiêu chuẩn hiệu suất công việc, quy trình này bao gồm tái đào tạo, kế hoạch nghề nghiệp, đánh giá hiệu suất và sự thăng chức.
Sự bồi thường (Compensation): Đảm bảo cung cấp mức lương công bằng và hợp lý cho nhân viên. 8 Tích hợp (Intergration): Hướng đến sự thống nhất, sự tích hợp giữa các cá nhân khác nhau trong tổ chức để từ đó người quản lý đảm bảo các nhiệm vụ cá nhân và mục tiêu tập thể đều hoàn thành. Phân tích công việc (Job Analysis): Nền tảng để đặt đúng người vào đúng vị trí. Trong chức năng này có 2 chức năng nhỏ là: Mô tả công việc (Job description) và đặc tả công việc (Job specification) Đánh giá nhân sự (Personnel Appraisal): Đánh giá một cách hệ thống về hiệu suất của nhân viên để hiểu khả năng của họ từ đó đưa ra lộ trình phù hợp để phát triển hoặc tái đào tạo.
Đánh giá công việc (Job Evaluation): Gần giống với đánh giá nhân sự nhưng thay đổi chủ thể từ nhân sự thành công việc, bằng cách phân tích các công việc có sẵn và tìm ra những nhân sự phù hợp để đảm nhận công việc đó. Thăng chức (Promotion): Quá trình thăng chức cho nhân sự dựa vào sự cam kết, năng lực và thâm niên làm việc của họ. Quản lý hồ sơ nhân sự (Personnel Records Management): là những tập dữ liệu chứa thông tin về hoạt động của nhân sự trong tổ chức. Hỗ trợ người quản lý kiểm tra và ra quyết định phù hợp với năng lực và hoạt động của nhân sự đó.
Quan hệ nhân sự (Personnel Relations): quan hệ giữa nhân sự trong tổ chức ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Một nhân sự trong tổ chức có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu suất của nhân sự khác. Kỷ luật (Discipline): Tính kỷ luật duy trì sự ổn định, có trật tự và duy trì sự phối hợp giữa các nhân viên. Khiếu nại của nhân viên (Employee Grievance): Lời khiếu nại giúp nhân viên giảm bớt cảm giác tiêu cực về tổ chức và cũng giúp tổ chức xác định những điểm còn hạn chế ở môi trường làm việc, mối quan hệ trong tổ chức,… 9 Quản lý sức khỏe và an toàn nhân sự (Personnel Health and Safety Management): Đảm bảo sức khỏe tinh thần, thể chất và mức độ an toàn của nhân sự trong tổ chức.
17 chức năng được Agunwa và ctg (2019) đề cập cho thấy một góc nhìn đầy chi tiết các chức năng của vị trí quản trị nhân sự trong một tổ chức, cụ thể là trong hệ thống quản lý của trường học, một môi trường tập trung trọng tâm vào phát triển con người. Klingner và ctg (2017) đưa ra cho chúng ta góc nhìn khoa học, đặt chung những công việc có mục đích liên quan đến nhau vào chung một chức năng cụ thể. Trong khi, Agunwa và ctg (2019) đưa ra những chức năng một cách chi tiết và không tóm gọn nó lại và nó tạo ra sự hỗn loạn trong việc phân tích và vận hành những chức năng có đặc điểm chung và có thể làm cùng nhau (hay chỉ cần 1 người, 1 nhóm bộ phận quản lý). Phối hợp giữa hai quan điểm từ hai nghiên cứu, sách trên cho ra một hệ thống chức năng của quản trị nhân sự như sau: Lên kế hoạch nhân sự: Với những công việc chính như: Hoạch định kế hoạch nhân sự, quản trị hiệu suất, phân tích các yêu cầu công việc, chuẩn bị ngân sách, thưởng (phạt) cho nhân sự đạt (không đạt) trong quá trình đó.
Tuyển dụng: Tuyển dụng là chức năng đảm bảo cho việc tổ chức lắp đầy được các nhu cầu nhân sự thông qua các bước như sau: Xác định đối tượng cần tuyển: Đây là bước được thực hiện dựa trên kế hoạch đã hoạch định, việc xác định đúng đối tượng cần tuyển sẽ giúp tổ chức giảm bớt số lượng ứng viên cần phải sàng lọc ngay từ đầu. Tìm kiếm các nguồn để tuyển dụng: Công nghệ, xã hội không ngừng đổi mới, tổ chức cần đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin từ các nguồn mà các đối tượng cần tuyển có thể nộp đơn ứng tuyển từ đó. Đặc biệt trong kỷ nguyên số hóa, tổ chức cần mở rộng các cổng nhận thông tin để thu thập được nhiều hơn từ các nguồn khác ngoài phương thức truyền thống.