Đặt vấn đề Lan huệ (Hippeastrum esquetre (Aiton) Herb.) thường được gọi theo tên tiếng anh là Valentine flower. Ở các nước Châu Âu loài hoa này còn được sử dụng phổ biến làm quà tặng nhân dịp “Valentine” vì màu sắc đa dạng. Lan huệ ở Việt Nam còn được gọi là Loa kèn đỏ, Lan huệ hay Mạc chu lan thuộc chi Hippeastrum, họ Amaryllidaceae (Traub, 1949; Rees, 1992, Merrow, 1988). Lan huệ ngày càng được trồng phổ biến tại Việt Nam, nhưng còn rất nghèo nàn về màu sắc (chủ yếu là màu đỏ).
Do đó cần phải phát triển Lan huệ ở Việt Nam để tăng độ đa dạng về màu sắc hoa và chọn tạo giống có thời gian ra hoa phù hợp với nhau cầu tiêu thụ của thị trường. Nhu cầu thị trường hoa Lan huệ ngày càng cao, dẫn tới nhiều giống mới nhập nội được thị trường chấp nhận. Các giống mới có nhiều đặc điểm trội hơn so với các giống cũ về mặt tính trạng như cánh đơn, bán kép hay cánh kép; kích thước hoa đa dạng từ nhỏ đến lớn; màu sắc phong phú. Để nhân giống vô tính cây Lan huệ có thể sử dụng các phương pháp: Tách củ nhỏ từ cụm cây mẹ (Siddique et al., 2007); kỹ thuật cắt lát ((Epharath et al.
(2001) hoặc sử dụng phương pháp nhân giống in vitro (Hussey, 1975; Seabrook et al., 1977; De Buruyn, 1992; Huang et al. Những nghiên cứu trên hoa Lan huệ tại Việt Nam những năm gần đây đang được quan tâm về các vấn đề như nghiên cứu nhân giống vô tính in vitro (Ninh Thị Thảo và cộng sự., 2009, 2010), nhân giống vô tính bằng biện pháp chẻ củ (Phạm Thị Minh Phượng và Trần Thị Minh Hằng, 2014),… So với phương pháp nhân giống in vitro, các phương pháp nhân giống khác đơn giản hơn, tuy nhiên lại cho ra hệ số nhân thấp và ít hiệu quả do thời gian nhân giống dài. Trong khi đó phương pháp nhân giống in vitro lại tạo ra được cây con sạch bệnh, thời gian nhân giống ngắn hơn các phương pháp khác, hệ số nhân giống cao, cây đồng nhất và đáp ứng được nhu cầu nhân giống. 1 Do đó, đề tài “Nhân nhanh in vitro giống Lan huệ (Hippeatstrum equestre)” được thực hiện nhằm tạo ra cây con sạch bệnh, hệ số nhân giống cao, cây đồng nhất với thời gian nhân giống ngắn.
Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Góp phần bổ sung thông tin vào quy trình nhân nhanh in vitro giống Lan huệ (Hippeatstrum equestre) - Hoàn thiện quy trình nhân in vitro nhằm nâng cao hệ số nhân, tạo cây con sạch bệnh. Yêu cầu - Xác định thời gian khử trùng mẫu thích hợp để tạo vật liệu khởi đầu. - Xác định môi trường nhân nhanh thích hợp để làm tăng hệ số nhân chồi.
- Xác định môi trường ra rễ phù hợp để tạo cây hoàn chỉnh. - Xác định các yếu tố kỹ thuật cần thiết để ra cây ngoài vườn ươm giúp cây có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dữ liệu khoa học mới về nhân giống vô tính cây Lan huệ bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, góp phần làm phong phú cơ sở dữ liệu về kỹ thuật nuôi cấy mô cây hoa.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện quy trình nhân giống Lan huệ cho thương mại và sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Các kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp vào quy trình nhân giống Lan huệ bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật, nhằm đáp ứng sản xuất giống có hiệu quả, chất lượng tốt, khắc phục được những hạn chế của nhân giống truyền thống, tạo được cây sạch bệnh, duy trì và nhân nhanh kiểu gen được chọn lọc. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về cây Lan huệ 2.
Nguồn gốc, vị trí phân loại cây Lan huệ Cây Lan huệ (Hippeastrum Herb) thuộc lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) phân lớp hành (lilidae), bộ hành (liliales), họ hành (liliaceae), chi (hippeastrum). Chi này có khoảng 91 loài và hơn 600 dạng lai và giống cây. Nhiều loài có hoa to, đẹp, màu sắc đa dạng. Tuy nhiên ở nước ta chi Lan huệ mới chỉ có 2 loài đó là loài Hippeastrum equestre (Lan huệ hay Loa kèn đỏ) và loài Hippeastrum reticulatum (Lan huệ mạng).
Phần lớn các giống cây Lan huệ tại Việt Nam có hoa màu đỏ. Do đó Lan huệ ở Việt Nam so với thế giới còn khá nghèo nàn về số lượng loài cũng như hình thái màu sắc hoa. Cây Lan huệ ở Việt Nam còn gọi là Loa kèn đỏ, Lan huệ, Huệ đất, Lan tứ diện, Mạc chu lan, Tứ diện, Tứ hướng, Tứ diện xích lan, Huệ chu lan,… tùy theo từng vùng miền và sở thích của mỗi người. Ở châu Âu, Lan huệ còn được gọi là hoa Tình yêu, tiếng anh là Valentine Flower bởi vì Lan huệ nở hoa trong khoảng đầu năm, vào dịp lễ tình yêu 14/02.
Do có nhiều loại hoa, mỗi loại có màu sắc và nét đẹp riêng nên được mọi người ưa thích và tặng nhau, dẫn đến cái tên hoa tình yêu được ra đời từ đó. Lan huệ có nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới châu Mỹ, được tìm thấy vào năm 1828 bởi Eduard Frederick Poepping trong quá trình tìm kiếm ở Chilê. Hiện nay hoa Lan huệ rất phát triển ở Anh, Nhật, Isarel, Ấn Độ, Brazil và Australia. Ở Việt Nam, hiện chưa có nhiều loại Lan huệ nhưng sự phân bố của chúng là khá đa dạng, có thể bắt gặp này khắp nơi trên cả nước.
Việc trồng, nhân giống và mua bán Lan huệ diễn ra khá phổ biến tại Việt Nam hiện nay. Lan huệ được trồng làm cảnh ở nhiều nơi đều có khả năng thích nghi cao, cho hoa đẹp, thường nở vào vụ xuân hè. Đặc điểm thực vật học của Lan huệ 2. Rễ Lan huệ thuộc bộ Lilliales nên có dạng rễ chùm gồm nhiều rễ phụ tương đối đồng đều về kích thước, rễ có màu trắng đến trắng ngà hoặc vàng, rễ mọc ra từ mô phân sinh đỉnh rễ nằm ở phần đế củ, phân nhánh mạnh, ăn nông 5-10 cm, trong điều kiện giá thể tơi xốp có thể ăn sâu tới 40-50 cm.
Thân Cây Lan huệ có 3 loại thân gồm: thân hành tạo thành củ, thân thật (thân rễ) là phần đế củ và thân khí sinh mang cụm hoa trên đỉnh. Củ: Cây Lan huệ thuộc nhóm thực vật có thân giả dạng thân hành (giống củ hành tây) tạo thành của Lan huệ. Các củ con sinh ra từ củ mẹ, đây là một hình thức sinh sản vô tính của chi Lan huệ. Chu vi củ con khoảng 3-6 cm, số lượng củ trung bình từ 1-3 củ con/cây.
Củ của Lan huệ có nhiều lớp liên tiếp nhau bao quanh, các lớp phía trong có màu xanh non hay trắng ngà, dày, giòn, chứa nước và chất dinh dưỡng, lớp ngoài cùng có màu nâu, mỏng, khô, còn được gọi là lớp áo, giúp bảo vệ cho các lớp trong khỏi sự mất nước và các tác động cơ học. Thân rễ: Thân thật của Lan huệ chính là đế củ, có hình đĩa. Thân thật còn được gọi là thân rễ, một dạng thân ngầm, vì vậy, cây Lan huệ còn thuộc nhóm thực vật thân ngầm, thực vật có chồi ẩn. Từ mô phân sinh đỉnh rễ ở phần đế củ sinh ra các sợi rễ tạo thành hệ rễ chùm.
Chính giữa của phần đế củ có mô phân sinh đỉnh thân, là nơi mọc lên lá mới của cây Lan huệ, khi lá đủ dài sẽ vươn ra khỏi cổ cù và chuyển sang mà xanh lá cây. Phần đế củ nằm giữa các bẹ lá dự trữ có mô phân sinh đỉnh thân tách lại một phần ở nách lá, vì vậy đó là nơi sinh ra các củ con ở các lớp vảy củ phía ngoài của củ mẹ và là nơi hình thành chồi hoa ở một số lớp vảy củ phía trong. Lá Lá của cây Lan huệ thuộc lá đơn, phiến lá hình dải, màu xanh đậm, kích thước 45-50 cm x 2-4 cm, hình kiếm hoặc hình dải mác, hơi khum thành hình máng, dai, cứng, có nhiều gân sọc song song và gân phụ ngang song song, 4 mép hơi cong xuống, chóp tù. Lá mới được hình thành tạo một góc 180o so với lá mọc ngày trước.
Do đó lá giá hơn luôn nằm phía ngoài và lá non luôn nằm phía trong hướng về tâm củ. Gốc lá dạng bẹ ôm lấy nhau, khum thành hình máng, mọng nước, biến đổi tạo thành phần vảy củ, dự trữ dinh dưỡng cho cây. Khi lá già, phần phiến lá rụng đi, phần bẹ lá tồn tại nhiều năm. Phần củ do vậy mà to lên nhờ số lượng lá được hình thành thêm và nhờ sự dày lên của các lớp vảy củ.
Hoa Hoa Lan huệ mọc ra từ một cuống tròn to, cuống mọc lên từ nách lá (cao 20- 30 cm). Mỗi cành thường có 4 nụ hoa nên còn gọi là huệ tứ diện. Trục hoa hay ngồng hoa có hình trụ, thẳng đứng, rỗng trong , dài từ 25-70 cm, đường kính từ 1,5- 4,0 cm. Hoa to, đều, lưỡng tính,màu sắc sặc sỡ, có cuống, bao hoa hình phuễu, nằm ngang, dạng tràng, có hai dạng hoa là Lan huệ đơn và Lan huệ kép.
Hoa Lan huệ đơn với 6 cánh hoa xếp thành hai lớp so le nhau, mỗi lớp 3 cánh xếp hình tam giác. Hoa Lan huệ kép có nhiều cánh hoa xếp từ 3 lớp cánh trở lên. Hoa Lan huệ có nhị 6, chỉ nhị tách rời nhau, đính ở họng ống bao hoa, bao phấn 2 ô, đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc. Bầu hạ, 3 ô, đính noãn trung trụ ; mỗi ô có nhiều noãn.
Vòi nhụy dài, mảnh, đầu nhụy dạng đầu hoặc 3 thùy. Quả và hạt Quả nang, hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh. Nhiều hạt, hạt hình dẹt, màu đen, nội nhũ hạt bao lấy phôi nhỏ,xung quanh hạt có lớp cánh mỏng. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây Lan huệ 2.
Nhiệt độ Lan huệ có thể chịu được nhiệt độ tương đối cao do có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ nơi mà mùa hè thường có nhiệt độ cao. Để Lan huệ sinh trưởng và phát triển tốt, nhiệt độ thích hợp khoảng 20-22oC trong điều kiện dinh dưỡng, nước tưới và ánh sáng đầy đủ. Loài cây này ra hoa trong điều kiện ánh 5 sáng trung bình và có nhiệt độ khoảng 7-13oC. Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân hóa mầm hoa, thêm nữa nhiệt độ cũng làm thay đổi màu sắc của lá.
Ánh sáng Lan huệ thích nghi trong cả điều kiện có nắng hoặc trong bóng râm.