CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Chi Ganoderma thuộc họ Ganodermataceae, sống hoại sinh hay kí sinh trên gỗ hay tàn dư thực vật. Vì thế chúng có ý nghĩa quan trọng với vòng tuần hoàn vật chất của tự nhiên. Một số loài nấm thuộc họ này được dùng làm thực phẩm và dược liệu có giá trị. Trên thế giới, việc nghiên cứu về nấm lớn nói chung và chi Ganoderma nói riêng đã được thực hiện bởi nhiều tác giả ở các nước khác nhau như Trung Quốc, Brazil, Pháp,.
Hầu hết các tác giả đều nghiên cứu về tính đa dạng của họ nấm Ganoderma ở các vùng khác nhau, còn về đặc điểm sinh thái hiện chưa có tác giả nào đề cập đến. Cho đến nay có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài như: Năm 2009, Muthelo đã phân tích hai mẫu nấm Ganoderma thu thập từ đông nam Trung Quốc và mô tả trên cơ sở các đặc điểm hình thái và phân tích phát sinh loài về trình tự gen của các mẫu nghiên cứu [1]; Năm 2010, Bhosle và các công sự đã phân loại sự đa dạng của nấm Ganoderma từ các vùng phía Tây của Maharashtra (Ấn Độ) [2]; Stéphane & Régis đã tóm tắt kiến thức về họ Ganodermataceae ở Tây Ấn sau khi thu thập được trong chuyến đi thực địa ở Guadeloupe và Martinique [3]; Năm 2021, Thatsanee Luangharn và các cộng sự của ông đã báo cáo về 22 loài nấm thuộc chi Ganoderma được thu hái từ khu vực ôn đới và nhiệt đới của tiểu vùng sông Mê Kông như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Myanmar và Việt Nam [4]. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nấm thuộc chi Ganoderma hiện có rất nhiều và phần lớn được tập trung nghiên cứu ở các vùng Bắc bộ như: Năm 2003, trong sách Đa dạng Sinh học hệ nấm và thực vật Vườn Quốc gia Bạch Mã của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô đã nêu ra khoảng 147 loài nấm, trong đó có 7 loài thuộc chi Ganoderma [5]; Năm 2008, tác giả Trịnh Tam Kiệt đã nghiên cứu và tìm ra hơn 200 loài nấm có thể dùng làm dược liệu, trong đó có rất nhiều loài nấm thuộc chi Ganoderma như: Linh chi - Ganoderma lucidum (Curtis:Fr) P.Karst, Linh chi sò – Ganoderma capense (Lloyd) Teng; Linh chi nhiều năm – Ganoderma applanatum (Pers., Ganoderma australe (Fr. Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Giảng viên hướng dẫn: TS.
Trần Thị Phú 3 Nghiên cứu quá trình phát triển một số giống nấm thuộc chi Ganoderma bằng công nghệ nhân giống dịch thể 1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống nấm dịch thể Hiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học là một trong những vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Áp dụng công nghệ lên men lỏng trên quy mô công nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm y học, thực phẩm đồng thời phương pháp này cũng được nghiên cứu ứng dụng trong công nghệ nhân giống nấm nhằm rút ngắn thời gian, tiết kiệm diện tích và kinh phí trong sản xuất nấm ăn. Giống nấm dịch thể là loại giống được nuôi dưỡng trong môi trường lỏng, đảm bảo các điều kiện tối ưu về dinh dưỡng, nhiệt độ, độ thông thoáng, thời gian nuôi, khiến sợi nấm sinh trưởng mạnh trong môi trường dịch thể tầng sâu. Công nghệ này cho phép thu được một lượng lớn sinh khối sợi nấm để làm giống cấp 1, giống cấp 2, và có thể trực tiếp làm giống nuôi trồng (giống cấp 3) [10].
Kỹ thuật nhân giống nấm dạng dịch thể khởi nguồn từ nước Mỹ, theo báo cáo năm 1947 của Humfeld, khi tiến hành lên men tầng sâu giống nấm Mỡ đã thu được lượng sinh khối sợi nấm lớn, từ đó phát triển mạnh kỹ thuật sản xuất giống nấm ăn dạng dịch thể tại các khu vực lân cận [11]. Năm 1966, Cục phát bằng sáng chế Mỹ đã cập nhật và công nhận một số kết quả nghiên cứu “Sản xuất và sử dụng giống nấm dạng dịch lỏng” của các tác giả Alain Laniece. Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích được các ưu điểm và nhược điểm khi sử dụng giống nấm dạng dịch lỏng; đồng thời công bố một số môi trường nhân giống dịch lỏng tiềm năng [12]. Trong những năm gần đây, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… là những nước có ngành công nghiệp sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu rất phát triển; đặc biệt có những bước tiến đáng kể trong nghiên cứu sử dụng công nghệ nhân giống nấm thuần khiết trong môi trường dịch thể.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, công nghệ nhân giống nấm trong môi trường dịch thể ngày càng được hoàn thiện và được xây dựng thành quy trình chuẩn, ứng dụng khá phổ biến. Đã có hơn 50 giống nấm khác nhau được sản xuất từ việc áp dụng phương pháp này như: nấm Sò vua Pleurotus eryngii, nấm Hương Lentinula edodes, nấm Kim châm Flammulina velutipes, nấm Linh chi Ganoderma lucidum, … [13] Ở Việt Nam, công nghệ nhân giống và sử dụng giống nấm dạng dịch thể để nuôi trồng cũng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng. Với những yêu cầu thực tiễn của nghề trồng nấm ở nước ta hiện nay, chất lượng và số lượng giống nấm có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định năng suất, chất lượng giống thương phẩm. Việc sử dụng các giống nấm được nghiên cứu kiểm định kỹ, có chất lượng cao thì năng suất nuôi trồng cao, hiệu quả kinh tế cũng cao.
Nổi bật trong đó là kết quả đã thành công trên nhiều đối tượng như: nấm Ngọc Châm Hypsizygus marmoreus, nấm Đầu Khỉ Hericium Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Phú 4 Nghiên cứu quá trình phát triển một số giống nấm thuộc chi Ganoderma bằng công nghệ nhân giống dịch thể erinaceus [14],[15]], nấm Mộc nhĩ Auricularia polytricha [16], nấm Sò vàng Pleurotus citrinopileatus [17],.3 Giới thiệu về các loại nấm nghiên cứu [18] 1.Karst Quả thể một năm, mũ nấm có dạng hình bán cầu, dạng quạt hoặc có khi hầu như là hình tròn. Mặt mũ có vân vòng đồng tâm, lượn sóng. Mũ mới sinh có màu trắng, có sắc thái vàng lưu huỳnh; sau chuyển sang màu vàng, vàng rỉ sắt, nâu, nâu đỏ,.
tạo nên một lớp vỏ bóng nhoáng như quét sơn hoặc đánh verni. Kích thước mũ nấm 2-4 x 3-30 x 0. Cuống dài, ngắn hoặc không có cuống, thường đính ở bên phần lõm vào của mũ nấm. Cuống mới hình thành màu trắng, sau chuyển sang màu vàng, màu nâu đỏ,.
và phủ vỏ bóng, có màu sắc và cấu trúc tương tự như mũ nấm. Cuống hình trụ, gần như hình tròn hoặc hơi dẹp, kích thước 3-19 x 0. Sinh thái: nấm mọc trên gốc, rễ cây sống và cây đã chết, trên rất nhiều cây gỗ mọc trong rừng và công viên, như cây ăn quả, đặc biệt là các cây thuộc bộ Đậu như lim xanh, lim vàng, phượng vĩ,. đều bị nấm này xâm nhập.
Từ lâu nhân dân ta dùng nấm này làm dược liệu trong Đông y với tên chung là “Linh chi”.2 Ganoderma sessile (Mẫu 2) Vị trí nấm Ganoderma sessile trong phân loại nấm học: Tên khoa học: Ganoderma sessile Ngành: Basidiomycota Họ: Ganodermataceae Lớp: Agaricomycetes Chi: Ganoderma Bộ: Polyporales Loài: Ganoderma sessile Murr., Bull Mũ nấm mọc cụm dính liền vào nhau, đạt kích thước từ 7-20 x 5-15 x 0.8 cm, mép mỏng, phân thùy nhẹ. Mặt mũ bóng, màu đen hoặc nâu cánh gián, có các gờ đồng tâm xếp sít nhau. Sinh thái: mọc ở gốc cây mục. Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Giảng viên hướng dẫn: TS.
Trần Thị Phú 5 Nghiên cứu quá trình phát triển một số giống nấm thuộc chi Ganoderma bằng công nghệ nhân giống dịch thể 1.3 Ganoderma annulare (Mẫu 3) Vị trí nấm Ganoderma annulare trong phân loại nấm học: Tên khoa học: Ganoderma annulare Tên khác: Polyporus annularis Fr., Fomes annularis (Fr.) Lloyd Ngành: Basidiomycota Họ: Ganodermataceae Lớp: Agaricomycetes Chi: Ganoderma Bộ: Polyporales Loài: Ganoderma annulare (Lam.:Fr) Pat Quả thể nhiều năm, cuống dài hoặc không có. Mũ dạng sò, hình bán cầu, phẳng dẹt, kích thước 13-23 x 24-36 x 1,5-8 cm. Mặt trên có vỏ rất cứng, màu gỉ sắt, không bóng, có rãnh và vòng đồng tâm nổi rõ. Lớp mô mỏng, màu nâu vàng đến nâu đậm.
Mặt dưới lỗ màu nâu rỉ sắt, ống phân tầng không rõ. Sinh thái: sống trên cây lá rộng rừng ẩm, sống hoại sinh gây mục trắng. Loài này phân bố nhiều nơi như Trung Quốc, Bắc Mỹ và gặp ở một số vùng núi cao ở Việt Nam.4 Ganoderma applanatum (Mẫu 4) Vị trí nấm Ganoderma applanatum trong phân loại nấm học: Tên khoa học: Ganoderma applanatum Tên khác: Fomes applanatus (Pers., Polyporus applanatus (Pers.) Wallr, Cổ Linh chi,. Ngành: Basidiomycota Họ: Ganodermataceae Lớp: Agaricomycetes Chi: Ganoderma Bộ: Polyporales Loài: Ganoderma applanatum (Pers.) Pat Quả thể nhiều năm, kích thước 6–28 x 15–53 x 3–7 cm, không cuống, mũ dạng quạt hoặc không có quy luật.
Ban đầu mặt trên chúng có màu trắng xám, sau đó chuyển sang nâu xám hay nâu gỉ sắt, không bóng, có nhiều vòng đồng tâm, đôi khi bao phủ bởi các bào tử màu gỉ sắt nâu đỏ; mép mỏng hoặc tù tương đối dày. Lớp mặt mũ mỏng mảnh dễ vỡ khi ấn tay vào. Ganoderma applanatum là một loại cây thuốc được sử dụng phổ biến trong suốt hàng ngàn năm. Trong y học Trung Quốc và Hàn Quốc, loại nấm này đã được sử dụng để điều trị bệnh lao thấp khớp và ung thư biểu mô thực quản.
Nó cũng đã được sử dụng phổ biến hơn để giải quyết chứng khó tiêu, giảm đau và giảm đờm. Sinh thái: ký sinh và hoại sinh trên gỗ của nhiều loại cây lá rụng, hiếm khi trên gỗ tùng bách, thường là nguyên nhân gây mục gốc hoặc mục rễ. Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Phú 6 Nghiên cứu quá trình phát triển một số giống nấm thuộc chi Ganoderma bằng công nghệ nhân giống dịch thể 1.5 Ganoderma lobatum (Mẫu 5) Vị trí nấm Ganoderma lobatum trong phân loại nấm học: Tên khoa học: Ganoderma lobatum; Tên khác: Polyporus lobatus Schw, Fomes lobatus (Schw.) Cooke, Elfvingia lobata (Schw.) Murr; Ngành: Basidiomycota Họ: Ganodermataceae Lớp: Agaricomycetes Chi: Ganoderma Bộ: Polyporales Loài: Ganoderma lobatum (Schw.) Atk Quả thể nhiều năm, không có cuống hoặc cuống nhỏ.
Mũ nấm hình bán cầu, khá phẳng dẹt, kích thước 2-13.5 cm, mũ nhỏ thì có kích thước khoảng 4 x 3. Bề mặt trên màu xám, nâu nhạt, đôi khi màu gỉ sắt với các vòng đồng tâm, không bóng. Sinh thái: sống trên gỗ chết của cây lá rụng, gây mục trắng cho cây.6 Ganoderma tornatum (Mẫu 6) Vị trí nấm Ganoderma tornatum trong phân loại nấm học: Tên khoa học: Ganoderma tornatum Tên khác: Polyporus tornatus Pess., Nấm linh chi đa niên vỏ cứng. Ngành: Basidiomycota Họ: Ganodermataceae Lớp: Agaricomycetes Chi: Ganoderma Bộ: Polyporales Loài: Ganoderma tornatum (Pers.