CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NHÀ NƯỚC KIÊN TẠO PHÁT TRIEN 1. Nhà nước kiến tạo phát triển - quá trình hình thành và nội hàm khái niệm 1. Bỗi cảnh ra đời của nhà nưóc kiến tạo phát triển Cuối thé kỷ XVIII, ở nước Anh và Pháp, trường phái kinh tế học chính trị tư sản cô điển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra.
Các nhà kinh tế học tư sản cô điển đã xây dựng hệ thống các phạm trù và quy luật về kinh tế thị trường, như phạm trù giá trỊ, giá cả, lợi nhuận, tiền lương, dia tô, dia tức, các quy luật giá tri, cung - cầu, lưu thông tiền tệ,. Đặc biệt, ở giai đoạn này, trường phái kinh tế học tư sản cổ điển ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, đề cao vai trò của thị trường tự do, họ chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Sang thế kỷ XIX, những mâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tế của chủ nghĩa tư bản ngày càng tram trọng. Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp làm tăng thêm mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Lúc này các học thuyết kinh tế của trường phái tư sản cô điền tỏ ra bat lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản, do đó đòi hỏi phải có những học thuyết kinh tế mới thay thế. Nhiều trường phái kinh tế chính trị học tư sản xuất hiện dé phân tích nền kinh tế thị trường, trong đó có trường phái tân cổ điển đóng vai trò quan trọng. Mặc dù có sự nhìn nhận, quan niệm khác với trường phái kinh tế học tư sản cổ điển về vai trò điều tiết kinh tế, nhưng các nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cô điển cũng ủng hộ tự do cạnh tranh, nhấn mạnh vai trò quan trọng của thi trường tự do, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế giống như trường phái cô điển. Họ cho rằng, cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm cân băng cung - cầu, nhưng cũng cần có nhà nước ở mức độ hạn chế dé nền kinh tế phát triển bình thường, tránh khủng hoảng 16 kinh tế.
Nghĩa là các nhà kinh tế học tư sản bắt đầu nhìn thấy vai trò nhà nước trong kinh tế thị trường. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp diễn ra theo chu kỳ thường xuyên và nghiêm trọng. Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 chứng tỏ rằng, học thuyết “tự điều tiết” kinh tế (thị trường tự do) của trường phái cô điển và tân cổ điển là thiếu tính xác đáng. Lý thuyết về bàn tay vô hình của A.Smith, lý thuyết cân bang tổng quát của L.Walras tỏ ra kém hiệu nghiệm, nên sản xuất yêu cầu sự can thiệp ngày càng tăng của nhà nước vào nén kinh tế.
Tat cả điều này đòi hỏi các nhà kinh tế học phải đưa ra được những lý thuyết kinh tế mới thích hợp hơn với thực tế này. Từ đó, lý thuyết kinh tế tư bản chủ nghĩa có điều tiết xuất hiện và người sáng lập lý thuyết này là J. Ông không đồng ý với quan điểm của trường phái cô điển và tân cô điển về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường.Keynes, muốn có cân bằng, nhà nước phải can thiệp vào nên kinh tế. Lý thuyết kinh tế của J.Keynes đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Những nhà kinh tế của chủ nghĩa tự do mới muốn áp dụng và kết hợp tất cả các quan điểm cũng như phương pháp luận của các trường phái tự do cũ, trường phái trọng thương mới, trường phải J.Keynes dé hình hành học thuyết kinh tế mới, có thé điều tiết nền kinh tế tu ban chủ nghĩa. Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước ở một mức độ nhất định. Khẩu hiệu của họ là thị trường nhiều hơn, nhà nước can thiệp ít hơn. Như vậy, ở trường phái chủ nghĩa tự do mới là sự dung hòa giữa trường phái tự do cũ và trường phái J.Keynes, khi vẫn nhấn mạnh vai trò của thị trường tự do, nhưng đồng thời cũng cần có sự điều tiết của nhà nước.
Những năm 80 của thế kỷ XX, các nước Đông Á như, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đạt được thành tựu phát triển kinh tế thần kỳ dựa trên sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào nên kinh tế, với những chính sách mạnh, như chính sách công nghiệp, chính sách kiểm soát tài chính. Sự can thiệp này không độc quyên, “thô bạo” như theo trường phái của J.Keynes, 17 mà sự can thiệp lúc này đóng vai trò là kiến tạo, tạo động lực dé kinh tế phát triển. Các nền kinh tế này đều không dé cao tuyệt đối vai trò của thị trường tự do (sự tự điều tiết của thị trường). Thực tế này khiến nhiều nhà lý thuyết bắt đầu xem xét vai trò tích cực và quan trọng của nhà nước đối với phát triển kinh tế dưới tên gọi lý thuyết phát triển.
Các nhà lý luận đã làm sáng tỏ vai trò tích cực của nhà nước trong phát triển, nhắn mạnh sự can thiệp cần thiết của nhà nước thông qua các công cụ, phương tiện: chính sách, thuế, quản lý, điều tiết, v. Thí dụ như, chính sách phát triển, hệ thống pháp luật, đội ngũ lãnh đạo, bộ máy hành chính, vốn. Sự can thiệp của nhà nước, tạo lập môi trường tốt cho kinh tế phát triển, đồng thời cũng thúc đây vai trò của thị trường. Những quan điểm này cung cấp các ý tưởng phong phú cho việc xuất hiện lý luận nhà nước kiến tạo phát triển.
Khác với quan điểm của trường phái tân cô điển chỉ dé cao vai trò của thi trường tự do, thwujc tế cho thay, các thé chế không chỉ bé sung cho thị trường mà còn có thể là một cơ chế phối hợp kinh tế. Các thể chế trong nhà nước phát triển được hiểu như là cấu trúc tổ chức rộng khắp trong toàn bộ nền kinh tế. Ở đây, vai trò của nhà nước là rất quan trọng vì nó có thể xây dựng các chính sách cụ thé và xác định con đường phát triển, với khả năng ban hành hoặc thực thi các pháp quy, luật định. Vì vậy, nhà nước có vai trò rất quan trọng trong điều tiết thị trường, đặc biệt là với mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.
Nhà nước tập trung cao vào vai trò kiến tạo, thúc đây nền kinh tế phát trién, chứ không can thiệp thô bạo vào nền kinh tế. Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển Về ngôn ngữ, “nhà nước kiến tạo phát triển” không có từ gốc hoàn toàn khớp với tiếng Anh, mà nó được sử dụng để chuyển dịch ý nghĩa của từ “Developmental state” hoặc “Development government”, được giới học thuật quốc tế sử dụng phổ biến trong mấy thập niên gần đây dé chi mô hình nhà nước mang đặc thù của một số quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc. Bởi vậy, “khi đặt trong bối cảnh mô hình phát triển của các quốc gia Đông Á trong những thập niên sau của thế kỷ XX - mà đặc trưng cơ bản là nhà nước 18 đóng vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển kinh tế của đất nước - thì việc chuyên ngữ “Developmental state” thành “nhà nước kiến tạo phát triển” là hợp lý và cần thiết” [65, tr. “Developmental state” được hiểu là nha nước vì sự phát triển (kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa,.), kiến tạo sự phát triển, tạo ra sự phát triển, coi sự phát triển là mục tiêu cơ bản nhất.
Vì vậy nó hoàn toàn khác biệt với nhà nước cai tri của một bộ phận xã hội đối với một bộ phận xã hội khác. Thuật ngữ “Developmental state” lần đầu tiên được Chalmers Johnson đưa ra trong cuốn “Bộ Công thương và Thương mại quốc tế và sự thần kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925 - 1975”, xuất bản năm 1982. Ông nhận xét rằng, trong sự phát triển “thần kỳ” đó, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là về chiến lược phát triển công nghiệp “rút ngắn”. Từ đó, thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” dùng dé chỉ một mô hình nhà nước thúc đây sự phát triển năm giữa hệ thống kinh tế thị trường tự do và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung [65, tr.
Điều này cho thấy, nhà nước kiến tạo phát triển là một mô hình nhà nước kết hợp được ưu điểm, đồng thời khắc phục được nhược điểm của cả hai mô hình thị trường có sự điều chỉnh của Nhà nước (Nhà nước điều chỉnh) và Nhà nước kế hoạch hóa tập trung, nhắn mạnh vai trò kiến tạo phát triển thông qua lựa chọn chính sách công một cách hợp lý và có kế hoạch. Việc lựa chọn và thực hiện những chính sách phát triển này do một bộ máy chuyên nghiỆp, độc lập thực hiện. Tiếp đó, thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” đã được Amsden (1989), Wade (1990) va Evans (1995) kế thừa, phát triển thêm và ap dụng dé phân tích các mô hình phát triển kinh tế thần kỳ ở các vùng lãnh thổ, quốc gia, như Đài Loan và Hàn Quốc. Nếu như các mô hình nhà nước cũ, nhà nước chỉ huy, hay nhà nước kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thì mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Đài Loan, Hàn Quốc là nhà nước tham gia tích cực vào việc thúc day sự phát triển của nền kinh tế.
Nhà nước kiến tạo phát triển thời đó là một nhà nước đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế. Dé đạt mục tiêu đó, nhà nước tích cực can thiệp vào thị trường, thông qua việc định 19 hướng, đặt ra quy tắc, điều phối, phân bổ nguồn lực và sử dụng những công cụ chính sách đa dạng khác. Đặc trưng của mô hình này là nhà nước tham gia tích cực vào việc thúc đây sự phát triển của nền kinh tế thay vì dé thị trường tự vận hành. Trong nhà nước kiến tạo phát triển, vai trò can thiệp của nhà nước được các lý thuyết gia kinh tế đề cao, bao gồm cả định hướng mục tiêu phát triển như công nghiệp hóa, định hướng xuất khẩu.
và kết nối các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp tư nhân dé dat được các mục tiêu đó.