Luận án tiến sĩ về chế định nguyên thủ quốc gia và giá trị tham chiếu cho Việt Nam

Tổng hợp kiến thức Nguyên thủ quốc gia trên thế giới: Giá trị tham chiếu cho Việt Nam, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

215
16
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chế định nguyên thủ quốc gia

Chế định nguyên thủ quốc gia (NTQG) là một phần quan trọng trong hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. NTQG không chỉ là người đại diện cho quốc gia mà còn là biểu tượng cho sự thống nhất và quyền lực của nhà nước. Các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào hình thức chính phủ, vai trò và quyền lực của NTQG có thể khác nhau. Trong các quốc gia theo mô hình quân chủ, NTQG thường có quyền lực hình thức, trong khi ở các nước cộng hòa, NTQG có thể nắm giữ quyền lực thực tế. Điều này cho thấy sự đa dạng trong cách thức tổ chức và hoạt động của NTQG trên thế giới. Việc nghiên cứu chế định NTQG không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của người đứng đầu nhà nước mà còn cung cấp những giá trị tham chiếu cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chế định này.

1.1. Lịch sử phát triển của chế định nguyên thủ quốc gia

Lịch sử phát triển của chế định nguyên thủ quốc gia gắn liền với sự hình thành và phát triển của các quốc gia. Từ những ngày đầu của các nền văn minh, vai trò của người đứng đầu nhà nước đã được xác định rõ ràng. Trong các xã hội cổ đại, NTQG thường là vua hoặc hoàng đế, người nắm giữ quyền lực tối cao. Qua các thời kỳ, chế định này đã trải qua nhiều biến đổi, từ các hình thức quân chủ tuyệt đối đến các mô hình dân chủ hiện đại. Sự chuyển mình này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong tư duy chính trị mà còn là kết quả của các cuộc cách mạng xã hội, kinh tế. Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của NTQG giúp nhận diện những giá trị cốt lõi và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

1.2. Đặc điểm của chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới

Chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới có những đặc điểm riêng biệt tùy thuộc vào từng quốc gia và mô hình chính thể. Ở các nước như Mỹ, NTQG có quyền lực thực tế và là người đứng đầu chính phủ, trong khi ở các nước như Anh, vai trò của NTQG chủ yếu mang tính biểu tượng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, NTQG không chỉ là người đại diện cho quốc gia mà còn có trách nhiệm trong việc điều hành chính phủ, thực hiện các chính sách đối ngoại và bảo vệ lợi ích quốc gia. Điều này cho thấy vai trò của NTQG không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn có tác động đến quan hệ quốc tế. Việc phân tích các đặc điểm này giúp Việt Nam có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của NTQG trong bối cảnh toàn cầu hóa.

II. Chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam

Chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam, cụ thể là chức vụ Chủ tịch nước, có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị. Chủ tịch nước không chỉ là người đại diện cho nhà nước mà còn là người đứng đầu trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, chế định này vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là trong việc xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước. Các nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện chế định NTQG ở Việt Nam cần phải dựa trên những giá trị tham chiếu từ các quốc gia khác, đồng thời phải phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn hóa của Việt Nam. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước mà còn góp phần xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh.

2.1. Thực trạng chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam

Thực trạng chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Quyền hạn của Chủ tịch nước chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến sự mơ hồ trong việc thực hiện chức trách. Nhiều chuyên gia cho rằng, việc xác định rõ vai trò và quyền hạn của Chủ tịch nước là cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả trong quản lý nhà nước. Hơn nữa, việc nghiên cứu thực trạng này cũng giúp nhận diện những điểm mạnh và yếu trong chế định NTQG, từ đó đề xuất các giải pháp cải cách phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.

2.2. Gợi mở cho việc hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia

Việc hoàn thiện chế định nguyên thủ quốc gia ở Việt Nam cần phải dựa trên những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác. Các mô hình NTQG thành công trên thế giới có thể cung cấp những giá trị tham chiếu quý báu cho Việt Nam. Cần thiết phải nghiên cứu và áp dụng những phương thức lãnh đạo hiệu quả, đồng thời cải cách hệ thống chính trị để phù hợp với bối cảnh hiện tại. Điều này không chỉ giúp nâng cao vai trò của Chủ tịch nước mà còn góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền, đảm bảo quyền lợi của nhân dân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẾ ĐỊNH NGUYÊN THỦ QUỐC GIA Nguyên thủ quốc gia trong các nhà nước hiện đại thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn gốc ra đời, cơ sở kinh tế-xã hội, cơ sở văn hóa, cách thức hình thành vai trò vị trí của NTQG trong BMNN. Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước) là nhân vật chính thức đại diện của một nhà nước thống nhất và hợp pháp.

Tùy thuộc vào hình thức chính phủ và sự phân chia quyền lực của quốc gia, NTQG có thể là người không thực quyền, thực hiện nghi lễ hoặc đồng thời là người đứng đầu chính phủ và có thể là người đại diện quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, (chẳng hạn như tổng thống Hoa Kỳ), thậm chí có thể vừa là người đứng đầu đảng chính trị duy nhất cầm quyền trong HTCT một đảng (Liên Xô trước đây, Trung Quốc, Tiều Tiên hiện nay). Ở nước ngoài NTQG (người đứng đầu nhà nước), được nghiên cứu nhiều từ lịch sử, định nghĩa, phân loại, vai trò, phương thức hình thành và các chế định của hiến pháp từng nước. Các công trình như: Kubicek, Paul (2015). ISBN 978-1-317-34853-5; Nicolaidis and Weatherill, ed.

"Whose Europe? National Models and the Constitution of the European Union". Archived from the original on 17 June 2015. Retrieved 23 December 2014; Gouvea, C. "The Managerial Constitution: The Convergence of Constitutional and Corporate Governance Models".

Freedom of speech: importing European and US constitutional models in transitional democracies. Archived from the original on 23 December 2014. Các nghiên cứu cho thấy, chế định NTQG ở mỗi mô hình, mỗi quốc gia là rất khác nhau. Theo các nghiên cứu đó, trong xã hội hiện đại có hai mô hình lớn: quân 9 chủ và cộng hòa.

Trong mỗi mô hình lớn đó, còn có các phiên bản nhỏ hơn, như mô hình quân chủ có quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến; trong mô hình cộng hòa có cồng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống, cộng hóa hỗn hợp và cộng hòa XHCN. Chức năng, vai trò của các NTQG mặc dù có những điểm chung, nhưng biểu hiện cụ thể lại rất khác nhau và được chế định trong các hiến pháp quốc gia. Vai trò chung phổ biến là biểu tưởng cho quốc gia về sự thống nhất, liên tục của QLNN, cho chủ quyền quốc gia, cho sự đoàn kết quốc gia… Các nghiên cứu cũng chỉ ra những vai trò đặc thù, trước hết là do mô hình chính thể, sau đó có thể là do truyền thống lịch sử và văn hóa chính trị. Ví dụ: Điều hành chính phủ (đứng đầu hành pháp), đứng đầu hành pháp, nhưng không đứng đầu chính phủ, điều hành hạn chế, không điều hành.

Ngoài ra NTQG còn có một số thẩm quyền khác, như tiệu tập và giải tán cơ quan lập pháp trong cộng hòa nghị viện, ngoại giao (cử đại sứ và phê chuẩn các hiệp ước, công bố luật, trình dự án luật, trao tặng danh hiệu nhà nước… Matthew Shugart và John Carey (1992), Tổng thống và Nghị viện (Presidents and Assemblies); Albert P.Blaustein and Jay A.Sigler, Constitutions that made history copyright 1988 (Các bản hiến pháp làm nên lịch sử); Joseph W. Robbins, "Presidentialism versus Parliamentalism", in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science: A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011). Các tác giả nghiên cứu về mối quan hệ giữa mô hình chính thể và chế độ bầu cử hình thành nên NTQG.

Trong trường hợp cộng hòa tổng thống, cử tri trong có khả năng xác định trước cơ cấu chính phủ và người đứng đầu chính phủ, có thể biết trước được ai sẽ là tổng thống, sẽ dẫn dắt chính phủ. Ngược lại, hệ thống đại nghị không rõ ràng như vậy vì cơ cấu chính phủ cuối cùng phụ thuộc vào cuộc đấu đá chính trị giữa các đảng chính trị hoặc liên minh các đảng chính trị. Các tác giả cũng phân tích các chế độ bầu cử đa số tuyệt đối và đa số tương đối và hệ quả của việc hình thành nên NTQG, mà theo hiến pháp là đại diện cho nhân dân. Các nghiên cứu cũng cho rằng, tính đại diên trong các chế độ đại nghị, hoặc chế độ tổng thống của NTQG có thể đặt ra vấn đề lựa chon mô hình chính thể cho một quốc gia.

10 Cuốn Nghiên cứu so sánh vai trò của NTQG trong chính thể cộng hoà đại nghị và cộng hoà tổng thống" (Comparative Study of the Role of the Head of State in Parliamentary and Presidential Systems of Government) của Mohd. Cuốn sách nghiên cứu về hai hình thức chính thể cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống và có đối chiếu so sánh về nguyên thủ quốc gia của các chính thể đó. Cuốn sách dành nghiên cứu về NTQG ở một số nước như Mỹ, Anh, Ấn độ… để có những so sánh, tìm ra sự khác biệt, những tương đồng về NTQG - vai trò, đặc điểm, các sử dụng quyền hạn của NTQG trong BMNN và với các thiết chế khác của BMNN. Đào Trí Úc, Cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình nguyên thủ quốc gia ở nước ta hiện nay [121].

Nguyễn Thị Quỳnh Giang, Một số nét mới về thể chế chính trị và BMNN một số quốc gia trên thể giới [39]. Tác giả phân tích mô hình vị trí nguyên thủ quốc gia trên thế giới hiện nay gắn liền với 3 loại mô hình chính thể: cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị và cộng hòa hỗn hợp. Nguyễn Thị Quỳnh Giang, khi nghiên cứu mô hình và những biến đổi thể chế chính trị của 20 quốc gia điển hình về thể chế chính (gồm Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mianma, Iran, Ôman, UAE, SriLanka; Châu Âu: Pháp, Nga, Đức, Nauy, Ai-len; Châu Mỹ la tinh: Mỹ, Cu Ba, Nam Phi; Châu Úc: Oxtraylia) từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Qua nghiên cứu so sánh, tác giả đã đưa ra những đặc trưng cơ bản, khái quát những xu hướng biến đổi chế định NTQG trong các mô hình chính thể: Trong chế độ quân chủ chuyên chế, Quốc vương nắm thực quyền (Ô-man); trong các mô hình Quân chủ lập hiến, Vua hay Nữ hoàng chủ yếu mang tính tượng trưng quốc thể.

Đại diện điển hình cho mô hình quân chủ nghị viện là vương quốc Anh và các quốc gia trong khối Liên hiệp Anh. Tuy nhiên, ở Thái Lan, Vua Thái Lan không chỉ là người đại diện cho quốc gia mà còn mang tính chất tôn giáo (Phật giáo) và được người dân tôn thờ, chính vì vậy mà Vua Thái Lan đã có nhiều lần can dự vào chính trường tại quốc gia này. Đối với các nước duy trì chế độ cộng hòa đại nghị, trung tâm thực thi QLNN là Chính phủ. Trong cộng hòa lưỡng tính (hỗn hợp) QLNN được chia sẻ giữa Nghị viện và Tổng thống - NTQG, đứng đầu hành pháp, nhưng không đứng đầu Nội các.

Hoa Kỳ là quốc gia theo chính thể cộng hòa tổng thống điển hình và quyền lực của Tổng thống là trung tâm của 3 nhánh quyền lực quốc gia. 11 Tác giả Nguyễn Quỳnh Giang cũng đề cập đến chế định NTQG ở một số nước mang tính pha trộn, ít điển hình và cũng đã chỉ ra những đặc điểm của NTQG ở các nước đó, như: SriLan-ka, Iran và UAE, Cộng hòa Hồi giáo Iran… Qua nghiên cứu lịch sử biến đổi của chế định NTQG trên thế giới, các tác giả nêu trên cũng rút ra kết luận đáng chú ý là: Thứ nhất, chế định nguyên thủ quốc gia biến đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội, đáp ứng với yêu cầu hiệu lực, hiệu quả của BMNN, bất chấp chế độ chính trị được định danh trong Hiến pháp là mô hình chính thể nào (LB Nga, Hàn Quốc…). Thứ hai, trên thế giới, dù NTQG ở bất kỳ mô hình chính thể nào, thì các quốc gia có xu hướng tăng cường vai trò của cơ quan hành pháp. Vì vậy, nếu các NTQG đứng đầu hành pháp, thông thường được tăng cường quyền lực và là một chế định thực quyền.

Một trong những công trình nghiên cứu về mô hình chính thể, địa vị pháp lý, vị trí, vai trò của NTQG với quy mô khảo sát lớn phạm vi nghiên cứu rộng là công trình của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, (chủ biên, 2013), Thể chế chính trị - Một số kinh nghiệm của thế giới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Cuốn sách khái quát về 193 quốc gia trên thế giới ở 5 châu lục; nội dung đề cập tới người đứng đầu quốc gia gắn liền với hai mô hình chính thể nhà nước cơ bản đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa. Trong đó chính thể quân chủ có 43 nước, chính thể cộng hòa 149 nước. Trong chính thể cộng hòa có 49 nước chính thể cộng hòa tổng thống; 29 nước nghị viện, 51 nước lưỡng tính, hỗn hợp; 5 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chủ yếu tập chung ở Châu Á và Châu Mỹ (5 nước, gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Triều Tiên, Cu Ba).

Công trình cho thấy xu thế phổ biến là các nước theo mô hình cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp (lưỡng tính). Điều này nhìn nhận từ góc độ lịch sử cho thấy, việc lựa chọn mô hình NTQG, mà cơ sở của nó là mô hình chính thể, có tính quy luật nhất định, ảnh hưởng lẫn nhau, trước hết là các yếu tố kinh tế - xã hội của thời đại cách mạng tư sản ở các nước phương Tây, sau đó là tư duy chính trị của thời đại đó, được nêu trong các lý thuyết chính trị khai sáng, nhằm trao quyền dân chủ cho công dân, NNPQ, chủ nghĩa lập hiến và đòi hỏi về tính hiệu lực, hiệu quả của nhà nước. Cuốn sách cung cấp bức tranh toàn cảnh về các chính thể của các 12 quốc gia trên thế giới, theo đó là các chế định NTQG, là cơ sở lý luận và thực tiễn tin cậy để nghiên cứu về chế định NTQG của các nước trên thế. Nói về sự đa dạng các mô hình chế định NTQG, ngay chỉ trong khu vực ASEAN, công trình Thể chế chính trị và tổ chức BMNN các nước ASEAN của các tác giả đăng trên Tạp chí Khoa học pháp luật, số 05/2002, trên cơ sở phân tích thể chế chính trị và tổ chức bộ máy của 9 nước ASEAN (trừ Việt Nam), cho thấy vai trò vị, trí của NTQG ở khu vực rất khác nhau, từ quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, cộng hòa tổng thống, cộng hòa hỗn hợp, cộng hòa XHCN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề Luận án tiến sĩ về chế định nguyên thủ quốc gia và giá trị tham chiếu cho Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Phương Thủy, dưới sự hướng dẫn của GS. Phan Xuân Sơn, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích chế định nguyên thủ quốc gia trên thế giới và những giá trị tham chiếu có thể áp dụng cho Việt Nam. Nội dung của luận án không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò và chức năng của nguyên thủ quốc gia trong hệ thống chính trị, mà còn cung cấp những gợi ý quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế chính trị tại Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật và chính trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý trong quản lý đất đai, hay Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật, giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị pháp lý trong các văn bản chính thức. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan đến giá đất tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý và chính trị hiện nay.