CHƯƠNG 1: KINH NGHIỆM XÁC ĐỊNH TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ GIỐNG NHAU KHI ÁP DỤNG ÁN LỆ CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ QUY ĐỊNH ÁP DỤNG ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát án lệ và sự cần thiết của nguyên tắc xác định tính giống nhau của tình tiết sự kiện pháp lý khi áp dụng án lệ giải quyết vụ án 1.1 Khái niệm của án lệ Hiện nay không có một cách định nghĩa cụ thể nào về án lệ (AL) mà lại có nhiều cách định nghĩa án lệ khác nhau. Theo nghĩa rộng, AL là một tập hợp các nguyên tắc pháp lý không được quy định rõ ràng trong luật mà được hình thành và công nhận qua quá trình xét xử của tòa án, được tòa án đúc kết từ nhiều vụ án giống như những kinh nghiệm quý báu được đúc kết qua thực tiễn. Đối với nghĩa nghĩa hẹp thì AL được hiểu đơn giản là một quyết định của tòa án đối với một vụ án cụ thể, nhưng quyết định này chỉ mang giá trị tham khảo cho việc giải quyết các vụ việc khác mà chứa tình tiết pháp lý tương tự (Triệu Quang Khánh, 2006). Theo từ điển Black’ law về mặt động từ thì AL là quá trình lập pháp tư pháp, tức là việc tòa án tạo ra những quy tắc pháp luật mới thông qua việc xét xử các vụ án cụ thể.
Những quy tắc này được hình thành và phát triển dựa trên việc áp dụng pháp luật (ADPL) vào thực tiễn xét xử, nhằm đảm bảo công lý cho các bên trong vụ kiện. Còn về mặt danh từ thì án lệ cũng được hiểu là những bản án, những quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án về một vụ việc cụ thể, đóng vai trò như những tiền lệ, được các thẩm phán dùng làm cơ sở để giải quyết các vụ việc tương tự xảy ra về sau, góp phần đảm bảo tính thống nhất và ổn định của pháp luật. Trong tiếng anh thuật ngữ án lệ được hiểu theo nghĩa “Precedent” có nghĩa là tiền lệ là việc căn cứ tình huống của một vụ án cụ thể đã được hình thành để áp dụng nên tạo thành án lệ (Nguyễn Văn Đại, 2019) nên còn có tên gọi khác theo từ điển The Law Dictionary (The Law Dictionary, 2023) có nghĩa là “Case law”. 14 Bên cạnh đó, theo nghĩa truyền thống thì AL được bắt nguồn từ hệ thống pháp luật Common Law của Anh là cái nôi của án lệ.
Anh Quốc đã hình thành nên một hệ thống pháp luật (HTPL) khi mà các bản án (BA) và quyết định của tòa án không chỉ đơn thuần là kết quả của một vụ kiện cụ thể mà còn mang giá trị như những luật bất thành văn, những án lệ này có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý và được áp dụng song song với các luật do cơ quan lập pháp ban hành điều này giúp hệ thống pháp luật được đa dạng và linh hoạt. Việc áp dụng án lệ (ADAL) của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật được thực hiện theo nguyên tắc là khi giải quyết vụ án các thẩm phán phải tuân theo các phán quyết trong AL, tức là tuân theo học thuyết “Stare decisis” là nguyên tắc bắt buộc các Thẩm phán (TP) phải tuân theo án lệ tương tự đã có trước đó và mang tính chất bắt buộc áp dụng. Bên cạnh đó trong hệ thống pháp luật Dân luật, AL không chỉ đơn thuần là kết quả của một vụ kiện mà còn là một nguồn tham khảo hữu ích cho các toà án nhưng không có giá trị pháp lý ngang bằng với luật định. Tuy nhiên khác với HTPL Thông luật án lệ ở đây không mang tính ràng buộc pháp lý tuyệt đối và không mang tính bắt áp dụng.
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều chỉ ra rằng án lệ là những bản án có tính chất tiền lệ, cung cấp những nguyên tắc pháp lý chung dùng để dùng để xét xử các vụ án mang tính chất tương đồng. Tuy nhiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam án lệ được quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ngày 18 tháng 6 năm 2019 (2019):“Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử” từ quy định này có thể thấy án lệ không chỉ giới hạn ở toàn bộ bản án, quyết định mà còn bao gồm những lập luận, phán quyết mang tính chất pháp lý cao. Án lệ có tính ràng buộc pháp lý, nghĩa là các tòa án phải tham khảo và áp dụng án lệ trong quá trình xét xử những vụ án có tình huống pháp lý tương tự điều này giúp tạo nên sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.2 Đặc điểm của án lệ Án lệ mang những đặc điểm được thể hiện qua những phương thức được sử dụng để tạo ra án lệ và ngoài ra từ những quy định trong từng hệ thống pháp luật khác nhau mà án lệ có những điểm khác nhau, cụ thể là: Thứ nhất, án lệ được thẩm phán tạo ra trong quá trình giải quyết, là những quyết định mang tính chất tiền lệ được áp dụng để xét xử các vụ án tương tự trong tương lai tuy là được hình thành và gắn với một vụ án cụ thể nhưng để trở thành án lệ thì một bản án phải đáp ứng các yêu cầu pháp lý nhất định và có tính khái quát cao bảo đảm cho quá trình xét xử các tình huống tương tự trong tương lai. Tuy nhiên không phải bản án nào của các thẩm phán cũng được xem là AL mà bản án đó phải được tạo ra từ một trình tự thủ tục nhất định và được quy định tùy vào từng quốc gia, chính vì thế mà AL ở mỗi quốc gia khác nhau lại có những đặc điểm và vị trí khác nhau.
Theo hệ thống pháp luật Common Law thì AL có vị trí ngang bằng với pháp luật thành văn, trong khi ở các nước theo HTPL Civil Law, án lệ chỉ mang giá trị tham khảo và đứng sau luật thành văn. Ngoài ra án lệ được tạo ra khi xét xử nên án lệ còn được gọi là nguồn luật được hình thành từ những vụ việc tình tiết hay là nguồn luật do Thẩm phán ban hành. Thứ hai, phải chứa đựng những nguyên tắc chung về cách thức giải quyết các vấn đề pháp lý và sẽ được các TP áp dụng trong các vụ án tương tự (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2016), đồng thời AL phải mang những tính chất mới mẻ tức là những tình tiết xuất hiện trong án lệ chưa từng có trước đây bởi lẽ không phải trong quá trình xét xử nào cũng tạo ra được án lệ vì đối với các vụ việc có tính chất đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác định tính chất pháp lý của tình huống đã được quy định trong văn bản pháp luật hay tình tiết pháp lý này đã được dùng làm tiền lệ trước đó và đang có hiệu lực áp dụng thì khi ấy thẩm phán sẽ không tạo ra án lệ mới khi đang xét xử. Thứ ba, án lệ phải có tính nhắc lại điều này thể hiện ở việc khi một bản án được công nhận là AL thì đồng nghĩa với việc AL đó sẽ trở thành khuôn mẫu cho các vụ án sau này mà các vụ án đó có tình tiết pháp lý tương tự với án lệ và được viện 16 dẫn áp dụng nhiều lần cho các vụ án tương tự xảy ra trong tương lai.
Có thể lấy ví dụ chứng minh đối với đặc điểm này là một vụ án đã trở thành án lệ nổi tiếng trên thế giới đó là vụ án “Con ốc sên Paisley”, ngày 09 tháng 4 năm 1929 bà May Donoghue kiện David Stevenson là nhà sản xuất nước uống có ga ở Paisley (Donoghue v Stevenson, 1932). Bà May cho rằng bệnh viêm dạ dày và ruột cũng như sự tổn thất về tinh thần sau khi bà May dùng thức uống không đạt chất lượng do David Stevenson sản xuất và yêu cầu được bồi thường. Vụ kiện đã được xét xử qua các cấp tòa án và sau đó bà May đã kháng cáo lên Ủy ban phúc thẩm Thượng nghị viện và luật được áp dụng để xét xử vụ tranh chấp này là luật Scotland và luật Anh và cả hai luật này đều có nội dung y hệt nhau là đều có yêu cầu trách nhiệm “chăm sóc” trong trường hợp phát hiện “sơ suất”, theo đó một cá nhân có thể khiếu nại đòi bồi thường từ một cá nhân khác khi người này “phải chịu một nghĩa vụ an toàn” và gây thiệt hại cho người kia do vi phạm nghĩa vụ này (Donoghue v Stevenson, 1932, trang 44-57). Xét về cơ bản, quy định về “trách nhiệm” này chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc thù tuy nhiên sau quá trình nghiên cứu của chính mình thẩm phán Atkin nhận định rằng luật pháp Scotland và luật pháp Anh giống nhau ở chỗ yêu cầu cần phải tìm ra nghĩa vụ xử lý sơ suất và giải thích nguyên tắc “hàng xóm” chung của mình khi nghĩa vụ quan tâm đó phát sinh.
Ngày 26 tháng 5 năm 1932 thẩm phán Atkin là thẩm phán của Ủy ban phúc thẩm Thượng nghị viện đã tuyên bố trong phán quyết của mình rằng (Donoghue v Stevenson, 1932, trang 44-57): “……Nguyên tắc bạn phải yêu quý hàng xóm của bạn khi trở thành luật thì bạn sẽ không được gây tổn hại đến hàng xóm của bạn và câu hỏi của luật sư ai là người hàng xóm của tôi nhận được câu trả lời giới hạn. Bạn phải cẩn thận một cách hợp lý để tránh những hành động hoặc những điều thiếu sót mà bạn có thể dự kiến được là những hành động đó có thể gây tổn hại đến người hàng xóm. Vậy thì theo luật ai là người hàng xóm của tôi và câu trả lời đó là những người trực tiếp bị ảnh hưởng bởi hành động của tôi mà tôi đã đoán biết được nó sẽ ảnh hưởng đến họ khi tôi hành động”. Từ phán quyết trên của thẩm phán Atkin ta thấy David Stevenson luôn phải nghĩ đến khách hàng của mình khi anh ta sản xuất chai bia gừng và ngoài ra thẩm 17 phán Atkin còn khẳng định rằng một nhà sản xuất khi muốn đưa sản phẩm đến với khách hàng dù dưới mọi hình thức nào nhất định phải có nghĩa vụ cẩn thận một cách hợp lý đối với khách hàng của mình trong suốt quá trình sản xuất ra sản phẩm.