Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm đồng quản lý Đồng quản lý hay hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên (Comanagement of Protected Areas) được nhiều tác giả định nghĩa như sau: Andrew W. Ingle và các tác giả (1999) [29] cho rằng: đồng quản lý được xem như sự sắp xếp quản lý được thương lượng bởi nhiều bên liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc quyền hưởng lợi được nhà nước công nhận và hầu hết những người sử dụng tài nguyên chấp nhận được. Quá trình đó được thể hiện trong việc chia sẻ quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên.
Nguyễn Quốc Dựng (2003) [17] cho rằng: đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình tham gia và hiệp thương của nhiều đối tác có mối quan tâm tới nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn, nhằm đạt được một thỏa thuận thống nhất về quản lý vừa đáp ứng mục tiêu chung là bảo tồn thiên nhiên, vừa đáp ứng mục tiêu riêng có thể chấp nhận được phù hợp với từng đối tác. Rao và Geisler (1990) [34] định nghĩa đồng quản lý là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những người sử dụng tài nguyên địa phương với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng các vùng bảo vệ. Các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung là bảo tồn thiên nhiên để trở thành “đồng minh tự nguyện”. Grazia Borrini – Feyerabend (1996) [30], đưa ra khái niệm về đồng quản lý các vườn quốc gia bảo tồn (Protected Areas) là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau thoả thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh thổ hoặc một khu vực tài nguyên dưới tình trạng bảo vệ.
Wild và Mutebi (1996) [37], lại cho rằng đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa phương với các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên hoặc các tài sản khác. Các bên liên quan, nhà nước hay tư nhân, cùng nhau thông qua một hiệp thương, xác định sự đóng góp của mỗi đối tác và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác đều chấp nhận được. Qua các khái niệm của các tác giả nói trên, đồng quản lý rừng Khu bảo tồn được hiểu như sau: Đồng quản lý rừng đặc dụng là sự tham gia của hai hay nhiều đối n 5 tác vào quản lý bảo vệ rừng đặc dụng, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và quyền lợi của các đối tác được thống nhất thông qua thảo luận trên cơ sở khả năng, năng lực của các bên và không trái với pháp luật hiện hành, nhằm đạt mục tiêu chung quản lý tài nguyên rừng đặc dụng tốt hơn. Tính pháp lý về quản lý rừng đặc dụng Luật Đất đai sửa đổi năm 2013 [20], quy định tổ chức quản lý rừng đặc dụng giao khoán ngắn hạn đất rừng đặc dụng trong khu bảo vệ nghiêm ngặt cho hộ gia đình chưa có điều kiện di chuyển ra khỏi khu vực đó để bảo vệ, giao khoán đất đặc rừng đặc dụng thuộc phân khu phục hồi sinh thái cho hộ gia đình cá nhân sinh sống ổn định trong khu vực đó để bảo vệ và phát triển rừng, UBDN tỉnh có thẩm quyền giao đất cho thuê đất vùng đệm đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về lâm nghiệp.
Điều 50, 51 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 [21], quy định tổ chức quản lý rừng đặc dụng, khai thác lâm sản trong khu bảo vệ cảnh quan và phân khu dịch vụ - hành chính của Vườn Quốc gia. Khu bảo tồn thiên nhiên được thực hiện theo quy chế quản lý rừng, không gây thiệt hại đến mục tiêu bảo tồn và cảnh gian của khu rừng; được khai thác các cây đổ, gãy, các loài lâm sản ngoài gỗ trừ các loài động thực vật cấp quý hiếm cấm khai thác theo quy định của Chính phủ. Nghị định số 23/2006/NĐ-CP [4] về việc hướng dẫn thi hành luật bảo vệ phát triển rừng; Điều 5, 6 quy định rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của UBND cấp huyện và xã. Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 [5] của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
Tại mục 3, điều 15 quy định tổ chức cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng đặc dụng mà cấp Bộ hoặc UBND tỉnh không thành lập, Ban quản lý rừng có trách nhiệm tổ chức quản lý khu rừng được giao; Ban Quản lý rừng đặc dụng có năng lực và điều kiện phát triển du lịch sinh thái, được thành lập một bộ phận trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ này, theo hình thức bước đầu là đơn vị sự nghiệp có thu; ban quản lý khu rừng đặc dụng huy động vốn, lồng ghép nguồn vốn; Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng. Quyết định số 218/2007/QĐ-TTg ngày 07/02/ 2014 [6] của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo n 6 tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Chiến lược nêu rõ: Nhà nước khuyến khích các hình thức đầu tư nhằm thu hút các tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học, tổ chức quốc tế, đồng thời khuyến khích sự tham gia quản lý của cộng đồng dân cư vùng đệm khu rừng đặc dụng, vành đai bảo vệ khu bảo tồn biển, vùng nước nội địa để quản lý bền vững, phù hợp với quy định của pháp luật Thông tư 70/2007/TT-BNN-KL ngày 01/8/2007 [1] của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn xây dựng quy ước quản lý bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư bản, làng, buôn, thôn, ấp. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 [22], tại mục 2, mục 3, điều 15 quy định Khuyến khích và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức truyền thống vào việc bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học.
Phát triển du lịch sinh thái gắn với việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn; phát triển bền vững vùng đệm của khu bảo tồn quy định đa dạng về nguồn đầu tư bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học. Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 [9] của Chính phủ về tổ chức, quản lý hệ thống rừng đặc dụng có nêu: Các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong rừng đặc dụng phải đảm bảo chức năng bảo tồn, duy trì và phát triển sự đa dạng sinh học của rừng, đảm bảo môi trường sống của các loài thực vật rừng, động vật rừng đặc hữu, quý hiếm; loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị cao về khoa học, giáo dục. Nghị định 99/2010/NĐ-CP, ngày 24/9/2010 [11] của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 [12], nhà nước yêu cầu “Ban quản lý RĐD, rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp nhà nước triển khai thực hiện cơ chế đồng quản lý với cộng đồng dân cư địa phương trên cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và cùng hưởng lợi ích từ rừng trên cơ sở đóng góp của các bên”, và triển khai cơ chế đồng quản lý rừng.
Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 [13] của Thủ tướng Chính phủ là một bước tiến mới về chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng, trong đó điều 4 về chính sách đồng quản lý rừng đã đề cập đến việc thành lập hội đồng quản lý - là đại diện hợp pháp, đảm bảo sự thỏa thuận trực tiếp và tự nguyện giữa ban, các đặc n 7 điểm chủ yếu của đồng quản lý: Quyền lực, quyền hạn, lợi ích và trách nhiệm đối với quản lý tài nguyên thiên nhiên có thể chia sẻ thông qua quá trình đàm phán để đi tới một thỏa thuận đồng quản lý thống nhất về thể chế quản trị có nhiều bên tham gia. Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/ 11/ 2013 [15] của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 [16] của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Có mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, giá trị cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các loại sinh vật hoang da nguy cấp, quý hiếm trong hệ thống rừng đặc dụng 1.
Đồng quản lý nhằm kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên với sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Để phục vụ cho mục tiêu phát triển, con người đã không ngừng khai thác các nguồn tài nguyên hữu hạn này. Bảo tồn TNR sẽ mâu thuẫn với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nếu khai thác một cách quá mức, bừa bãi không theo kế hoạch làm cạn kiệt TNR, hệ quả không bền vững về KT - XH và môi trường. Chính vì vậy, cần phải bảo tồn, duy trì khả năng tái tạo các tài nguyên cho sự phát triển ổn định lâu dài.
Đồng QLTN khu bảo tồn sẽ là phương thức hiệu quả cho tiến trình bảo tồn và phát triển. Nhà nước có chiến lược, chính sách bảo tồn nguồn TNTN và thường nảy sinh mâu thuẫn với các cộng đồng địa phương đang sử dụng tài nguyên (đối tượng bảo tồn) phục vụ đời sống. Giữa cộng đồng và quốc gia sẽ đạt được đồng nhất trong các mục tiêu bảo tồn và phát triển nếu như tiến tới thỏa thuận về một phương thức đồng quản lý 1. Đồng quản lý rừng đặc dụng vận dụng khoa học tiên tiến kết hợp kiến thức bản địa Rừng đặc dụng được Nhà nước giao cho các Ban quản lý rừng đặc dụng quản lý, đây là đội ngũ có kiến thức khoa học kỹ thuật trong quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; Người dân sống quanh rừng có trình độ hiểu biết không cao, song họ có rất nhiều kinh nghiệm thực tế về tài nguyên rừng như ở những nơi nào có gỗ to, cây thuốc trị bệnh.
Đồng quản lý sẽ ứng dụng kết hợp sự hiểu biết về đa dạng sinh học của khoa học với những kiến thức sinh thái bản địa.