Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYÊN TÁC TRÁCH NHIỆM PHÓI HỢP CỦA CƠ QUAN, TỎ CHỨC, CÁ NHÂN VỚI CƠ QUAN THI HANH ÁN DÂN SỰ, CHAP HANH VIÊN. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA NGUYEN TAC TRÁCH NHIEM PHÓI HỢP CUA CO QUAN, TO CHỨC, CÁ NHÂN VỚI CO QUAN THI HANH ÁN DAN SỰ, CHAP HANH VIEN 1. Khái niệm nguyên tac trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên THADS là một hoạt động quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước. Tuy vậy, hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về THADS.
Quan điểm thứ nhất cho rằng THA là hoạt động tổ tung, song THA là hoạt động t6 tụng nào và nam ở giai đoạn nào của quá trình tố tụng, thì vẫn chưa thông nhất. Có ý kiến cho răng, THA là một giai đoạn tố tụng và là giai đoạn cuối cùng của tô tụng. Quan điểm này xuất phát từ quan niệm cho rằng THA là một giai đoạn nam trong qua trinh giai quyét vụ án, theo đó, giai đoạn tô tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn THA là giai đoạn hậu xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của TAND trên thực tế. Trong quá trình THA, vai trò và trách nhiệm của TAND gan chặt với hoạt động THA, được biểu hiện như trách nhiệm của TAND trong việc “giải thích những điểm chưa rõ, có sai sót hoặc sai lầm về số liệu” khi cơ quan THA yêu cầu hoặc “xem xét kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm bản án, quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng” khi co quan THA kiến nghị.
Với quan niệm này, thì THA được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán quyết của TAND có hiệu lực pháp luật [72, tr 9]. Quan điểm thứ hai cho rang THADS là hoạt động quản lý hành chính — Tư pháp. quan điêm này cho răng quá trình tô tụng mà trọng tâm là việc xét xử của TAND chấm dứt khi TAND ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó TAND đã xác định quyền, nghĩa vụ của các bên, còn việc thi hành phán quyết đó lại là một giai đoạn khác, không thuộc quá trình t6 tụng. THADS không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì THADS có mục đích khác với mục đích tố tung; tố tụng là quá trình di tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật [28, tr10].
Quan điểm thứ ba cho răng, THADS là hoạt động Tư pháp của Nhà nước nhằm đưa ra và đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật. Quan điểm này xuất phát từ nguyên lý “øốc” của hoạt động THADS là bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật và khi thực hiện nhiệm vụ THADS, cơ quan THADS phải thi hành theo đúng quyết định của TAND chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính. Việc THA thông qua vai trò hoạt động của cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Toà án, đó là CHV, Giám thị ở trại giam hoặc các cơ quan, tổ chức và người có thâm quyền khác. Hoạt động hành chính trong lĩnh vực THADS chăng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của cơ quan THADS là tổ chức THA theo quy định của pháp luật [73, tr9-10].
Mỗi loại quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng. Nhiều tác giả cho rằng THADS là một thủ tục tố tụng có tính chất tư pháp và chỉ cần xác định THADS là thủ tục tố tụng THA, ma không nên coi đó là một giai đoạn của thủ tục tô tụng hình sự, dân sự, hành chính hay tô tụng khác và cần hiểu THA là thủ tục tố tụng độc lập so với các hoạt động tố tụng khác như điều tra, kiểm sát hoặc xét xử [72. Đề hiểu THADS là gi, ta phải hiểu tinh chất công việc THADS. THADS là một giai đoạn độc lập trong quá trình tố tụng, vì đây là giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự.
Việc tách rời giai đoạn THADS ra khỏi tiễn trình tố tụng sẽ làm mat ý nghĩa của giai đoạn xét xử (giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong quá trình t6 tụng), cũng như toàn bộ các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, THADS không chi là tổng hợp các hành vi thi hành bản án, quyết định về dân sự của Toà án, mà bao gồm cả những hành vi nhằm thi hành bản án, quyết định đó theo quy định của các văn bản pháp luật khác. Như vậy, việc chuyển giao công tác THADS từ cơ quan xét xử sang cơ quan thuộc Chính phủ không có nghĩa là thủ tục THADS là thủ tục hành chính. Thủ tục tổ tụng dân sự cũng như thủ tục tố tụng hình sự không thể hiểu chỉ có TAND tiến hành mà do nhiều cơ quan, tô chức tiến hành.
Nội dung THADS chủ yéu mang tính tài san, dựa trên bản án, quyết định của Toà án, quyết định của Trọng tài thương mại, nó gan liền với việc giải quyết vụ án. Chính vì vay, THADS không thé coi thuần tuý là một thủ tục hành chính, giai đoạn THADS vẫn được nghiên cứu như một bộ phận của pháp luật tố tụng dân sự [51, tr16-17]. Tố tụng dân sự là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và THADS. Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, co quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước.
Tố tụng dân sự bao gồm: khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự; thụ lí vụ việc dân sự; giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự SƠ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thâm, tái thâm và THADS [26, tr 785]. Tố tụng không chỉ là thưa kiện tại TAND nói chung, là hoạt động của cơ quan TAND xét xử để đi tìm chân lý, mà thực chất tố tụng là những quy định về thủ tục giải quyết vụ án hình sự, vụ án dân sự, việc dân sự, vụ án kinh tế, lao động, hành chính. Sau khi có bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan có thâm quyền thì quyền và nghĩa vụ của công dân, t6 chức, Nhà nước mới chỉ đảm bảo trên tờ giấy trăng. Đến giai đoạn THA thì quyền và nghĩa vụ ấy mới đảm bảo trên thực tế.
THADS đối với vụ việc theo đơn yêu cầu thé hiện một trong hai phương thức: hoặc đương sự tự nguyện thi hành; hoặc đương sự làm đơn yêu cầu THA gửi đến cơ quan THADS. Về bản chất của sự tự nguyện thi hành là ý chí tự giác của người phải THA, sự thoả thuận của các đương sự, đây là nguyên tắc của luật dân sự - Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận [Điều 4 BLDS]; thé hiện tất cả các giai đoạn tổ tụng 10 trước đó mà cơ quan Nhà nước có thâm quyên phải ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận nếu sự thoả thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hoạt động tổ tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan, như hoạt động điều tra của Công an, hoạt động truy tố của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), hoạt động xét xử của TAND, hoạt động THADS của cơ quan THADS. Hoạt động của cơ quan THADS về cơ bản là nhằm mục đích bảo đảm bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan có thâm quyền khác được thi hành trên thực tế.
Hoạt động THADS là liên quan đến phan tài sản hoặc quyền của người được THA theo bản án, quyết định của Toà án. Tuy nhiên, hoạt động THADS tham gia cả trước khi có bản án, quyết định của Toà án như: hoạt động quản lý vật chứng, đây là hoạt động rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; hoạt động thu tạm ứng án phí, hoạt động này cũng rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự. Khi nguyên đơn nộp tạm ứng án phí là mốc thời điểm thụ lý vụ án, việc dân sự. Hoạt động THADS hiện nay do Cơ quan THADS thực hiện; riêng ở thành phố Hồ Chí Minh đang thí điểm xã hội hoá công tác THADS, giao cho tô chức Thừa phát lại thực hiện một số công việc về THADS.
Chủ chốt vẫn là CHV của cơ quan THADS thực hiện việc THADS trong đó có vai trò quan trọng là ban hành quyết định cưỡng chế THA. CHV được nhân danh Nhà nước trong khi giải quyết việc THADS, độc lập quyết định và tự chịu trách nhiệm, đóng dau Quốc huy. CHV tương đương với Thâm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên. Từ những phân tích trên ta có thé kết luận THADS là hoạt động tô tung tư pháp do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyên tô chức thực hiện bản án, quyết định của Toà án, quyết định của cơ quan có thẩm quyên.
Nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thé hiện tính toàn diện, linh hoạt và có ý nghĩa bao trùm, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật [82, tr270]. Nguyên tắc của LTHADS là những tư tưởng pháp lí co bản, phản ánh quan điểm của Đảng và Nha nước ta về THADS, xuyên suốt các quy phạm pháp luật THADS, quyết định toàn bộ kết cấu của quy trình THADS và thể hiện những đặc trưng của hoạt động II THADS [75, tr 59]. Trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả [47]. Phối hợp là cùng hành động hoặc hoạt động hỗ trợ lẫn nhau.