Chương 1: Lý luận về nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế. - Chương 2: Thực trạng của nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế ở Việt Nam - Chương 3: Định hƣớng hoàn thiện pháp luật thuế và một số kiến nghị nhằm tăng cƣờng nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế ở Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG PHÁP LUẬT THUẾ 1. Khái niệm nguyên tắc công bằng Công bằng là một khái niệm tồn tại từ rất sớm, và đƣợc nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau.
Ngô Thị Mỹ Dung đã từng nhận định thì công bằng (công lý) là một khái niệm căn bản của đạo đức học, của triết học pháp quyền, triết học xã hội cũng nhƣ của đời sống chính trị, xã hội, tôn giáo và pháp luật [19, tr. Ngoài ra, công bằng còn đƣợc coi là đạo đức - pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị - xã hội. Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hƣởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội. Sự không phù hợp trong mỗi quan hệ đó đƣợc xem là sự bất công [19, tr.
Tóm lại, công bằng dù đƣợc diễn đạt bằng những cách hiểu nào thì nó vẫn là một kiểu trạng thái lý tƣởng mà xã hội hiện đại muốn hƣớng đến. Trong đó các vấn đề về lợi ích, trách nhiệm và cơ hội đƣợc nhìn nhận cũng nhƣ phân chia một cách phù hợp nhất. “Nguyên tắc” theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì (nguyên là gốc, tắc là phép tắc) là điều cơ bản đã đƣợc quy định, nhất thiết phải tuân thủ theo, dùng làm cơ sở cho mối quan hệ xã hội. Nguyên tắc còn là những điều cơ bản rút ra từ thực tế khách quan để chỉ đạo hành động [35, tr.
Theo từ điển Viện ngôn ngữ học thì“nguyên tắc” là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm [42, tr. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua các cách tiếp cận trên cho thấy, “nguyên tắc công bằng” là cơ sở, là điều kiện và mục đích hƣớng tới trong mọi hoạt động trong xã hội kể cả trong lĩnh vực lập pháp và hành pháp. Nguyên tắc công bằng cùng với những nguyên tắc khác tạo nên bộ những nguyên tắc cơ bản mà pháp luật cần tuân thủ. Nguyên tắc công bằng lần đầu tiên đƣợc nhắc đến một cách mạnh mẽ nhất trong Bản tuyên ngôn nhân quyền năm 1789.
Và sau này đƣợc nhìn nhận rộng rãi với những phạm vi khác nhau trong từng quốc gia và vùng lãnh thổ. Đối với Việt Nam nói riêng, nguyên tắc công bằng đã nhiều lần đƣợc khẳng định trong các văn kiện quan trọng nhƣ Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đã xác định rõ nhiệm vụ đảm bảo công bằng là động lực và nội dung của sự đổi mới “Dân giàu, nước mạnh. Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đồng thời tiếp tục đƣợc thể hiện rõ nét trong những chính sách của Đảng trong những kỳ tiếp theo. Đặc biệt nguyên tắc còn đƣợc thể hiện một cách mạnh mẽ trong Hiến Pháp - văn bản pháp quy quan trọng nhất nƣớc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa cho đến ngày nay.
Từ đó thể hiện đƣợc tƣ tƣởng mới của Đảng và Nhà nƣớc ta trong việc đảm bảo nguyên tắc công bằng trong xã hội bằng các động thái công bằng trong pháp luật. Khái niệm, đặc điểm của nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế 1. Khái niệm nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế có nghĩa là mọi đối tƣợng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi ngƣời có điều kiện liên quan đến thuế nhƣ nhau thì phải đƣợc đối xử về thuế nhƣ nhau. Tính công bằng vẫn đƣợc đảm bảo trong cả trƣờng hợp có sự khác nhau về điều kiện, thể hiện ở việc nếu có điều kiện khác nhau thì những đối tƣợng khác nhau nhƣng cùng loại thì phải đƣợc đối xử với nhau tƣơng ứng.
Các đối tƣợng nhƣ nhau phải 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nộp những loại thuế giống nhau và những đối tƣợng khi có đủ điều kiện để đƣợc khuyến khích, ƣu đãi về thuế cũng đƣợc hƣởng sự đối xử tƣơng ứng[60]. Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế là những tƣ tƣởng, định hƣớng chủ đạo, đúng đắn, khách quan và khoa học, đƣợc quy định cụ thể trong pháp luật thuế từ quy định về chủ thể có nghĩa vụ, đối tƣợng chịu thuế, thu nhập tính thuế đến thuế suất và công tác hành thu. Nhƣ ta đã phân tích, công bằng và nguyên tắc công bằng là một điều kiện và cũng là trạng thái muốn hƣớng đến của pháp luật thuế, nên tính công bằng từ lý luận và thực tiễn một số nộ dung chỉ dừng lại mức tƣơng đối. Tiêu thức để có thể đánh giá tính công bằng của một hệ thống thuế phải dựa nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theo chiều dọc.
Cụ thể, hệ thống thuế đƣợc coi là bằng theo chiều ngang nếu các cá nhân về mọi mặt đều nhƣ nhau thì đƣợc đối xử ngang nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, nguyên tắc này trong thực tế rất khó thực hiện vì pháp luật thuế không chỉ rõ những tiêu chí cụ thể để xác định các chủ thể nhƣ thế nào là nhƣ nhau, mặt khác cũng không chỉ rõ việc đối xử nhƣ nhau trong điều chỉnh việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế là nhƣ thế nào. Khác với nguyên tắc công bằng theo chiều ngang, một hệ thống thuế đƣợc coi là công bằng theo chiều dọc nếu ngƣời có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn ngƣời khác. Tức là nghĩa vụ nộp thuế đƣợc xây dựng có sự phân biệt giữa những chủ thể có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc các điều kiện sống khác nhau.
Nguyên tắc tắc công bằng đƣợc nhìn nhận với tƣ cách là nguyên tắc đánh thuế trong kinh tế học và nguyên tắc xây dựng chính sách thuế và pháp luật thuế. Đƣợc pháp luật ghi nhận và cụ thể hóa không chỉ trong các luật thuế nội dung mà còn trong luật quản lý thuế đặt trong những các chế tài xử lý vi phạm nhằm tăng cƣờng nguyên tắc công bằng nói chung. Đặc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt đây là nguyên tắc có quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bình đẳng, là nguyên tắc xƣơng sống trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật thuế. Trong đó công bằng đƣợc cụ thể hóa một cách tƣơng đối hoặc tuyệt đối từ những quy định về chủ thể nộp thuế, quy định về thu nhập chịu thuế, thuế suất và các quy định miễn giảm thuế trong các sắc thuế nội dung.
Cũng nhƣ cụ thể hóa trong chính các nguyên tắc quản lý thuế, quyền của ngƣời nộp thuế và nghĩa vụ của cơ quan thuế trong quá trình từ thu nộp, thanh tra, kiểm tra thuế,. trong luật thuế thủ tục. Đặc điểm của nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế Nguyên tắc công bằng đƣợc đảm bảo bằng việc gắn chặt chính sách thuế với chế độ dân chủ và nhà nƣớc pháp quyền. Là một trong những nguyên tắc tạo thành hệ thống quan điểm chỉ đạo và chi phối sâu sắc đến việc ban hành, sửa đổi, bổ sung cũng nhƣ thay thế hệ thống văn bản pháp luật thuế.
Có tác động tích cực đến vị trí và vai trò của các văn bản pháp luật thuế, vừa là cơ sở tƣ tƣởng ban đầu đảm bảo thuế đƣợc xây dựng hợp pháp và hợp lý, vừa là cơ sở đảm bảo pháp luật đi vào thực tế đời sống nhân dân. Nguyên tắc đƣợc cụ thể hóa trong Pháp luật thuế, chính sách Thuế của Nhà nƣớc và quy định thực thi thông qua đó bảo đảm điều chỉnh hài hòa lợi ích ngƣời nộp thuế thực hiện đƣợc nghĩa vụ của mình đối với lợi ích chung, bên cạnh trách nhiệm của nhà nƣớc về xây dựng nền tảng và điều kiện sống phù hợp cho ngƣời dân. Đặc biệt, đây là nguyên tắc định hƣớng và là tƣ tƣởng cốt lõi nhằm thực hiện tốt nhất ý nghĩa bên trong của thuế, không để “thuế má thu đến tơ tóc, mà dùng của cải nhƣ bùn đất” nhƣ cách diễn tả về thuế Việt Nam trong những năm phong kiến. Cuối cùng đó chính là sự đồng nhất về tƣ tƣởng và hƣớng đến xây dựng một xã hội tiến bộ hơn.
Có thể nói trong lịch sử phát triển của thuế tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về quyền lợi và trách nhiệm trong thuế. Nên nguyên tắc công bằng cũng đƣợc nhìn nhận trong phạm vi không giống nhau. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu nguyên tắc công bằng ở những học thuyết hiện đại về thuế, từ học thuyết về thuế - trao đổi, học thuyết về thuế - đoàn kết và sau nữa là học thuyết về thuế - bù đắp đặt trong quan điểm pháp luật thuế Việt Nam. Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế đƣợc thể hiện khá toàn diện về mặt lý luận Thứ nhất, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế Nghĩa vụ nộp thuế đƣợc xem là nghĩa vụ của mọi cá nhân, và tổ chức.
Điều 47 Hiến pháp 2013 đã chỉ rõ “mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định”. Khác với quy định tại Điều 80, Hiến pháp 1992, Quy định này đã khẳng định nghĩa vụ nộp thuế không chỉ dừng lại đối với đối tƣợng là “công dân” mà là nghĩa vụ chung của tất cả “mọi ngƣời”. Đó có thể là cá nhân cƣ trú hay không cƣ trú, là hộ gia đình kinh doanh, hợp tác xã, là doanh nghiệp thành lập theo quy định Luật doanh nghiệp Việt Nam, hay doanh nghiệp nƣớc ngoài. chỉ cần có thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam, có hoạt động thụ hƣởng đến các đối tƣợng chịu thuế, thì tất yếu hình thành nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nƣớc một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Tức là, nghĩa vụ nộp thuế đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở chủ yếu là thu nhập chịu thuế và đối tƣợng chịu thuế nên buộc mọi chủ thể phải thực hiện một phần nghĩa vụ với nhà nƣớc mà không có sự phân biệt giữa cá nhân và tổ chức, không phân biệt giới tính, tôn giáo, trình độ học vấn, dân tộc. Câu hỏi đặt ra là vì sao phải nộp thuế?