ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi là bệnh thường gặp gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới, theo WHO năm 2019 trên toàn thế giới có 740.180 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do viêm phổi, chiếm 14% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, chiếm 22% tổng số ca tử vong ở trẻ em từ 1 đến 5 tuổi [78]. Theo báo cáo của Haris, ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc mới bệnh viêm phổi hàng năm được ước tính vào khoảng 3,3 trên 1000 trẻ ở đối tượng trẻ dưới 5 tuổi [48]. Tại các nước đang phát triển tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2015 được ước tính khoảng 231 trường hợp trên 1000 trẻ [57]. Tại Việt Nam, theo báo cáo của tác giả Rudan và cộng sự, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia có gánh nặng bệnh tật viêm phổi cao nhất, với ước tính 2,9 triệu trường hợp và 0,35 đợt viêm phổi/trẻ dưới 5 tuổi/ năm [66].
Vi khuẩn vẫn là nguyên nhân phổ biến gây bệnh viêm phổi ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Ở trẻ dưới 5 tuổi, các nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi là S. influenza và Staphylococcus aureus [7], [42], [74]. Hiện nay vi khuẩn không ngừng biến đổi, làm tăng khả năng kháng thuốc gây ra nhiều khó khăn trong việc điều trị.
Kháng thuốc kháng sinh là một vấn đề trên toàn thế giới, làm gia tăng mối đe dọa của thời kỳ hậu kháng sinh, dẫn đến nguy cơ trẻ em có thể tử vong vì những bệnh nhiễm trùng mà trước đây có thể điều trị được [65]. Trong nghiên cứu nhằm đánh giá gánh nặng của vấn đề kháng kháng sinh toàn cầu, S. Influenza được xác định là một trong những mầm bệnh hàng đầu gây tử vong và có tỷ lệ kháng kháng sinh cao [59]. Do đó, xác định được căn nguyên gây viêm phổi không những hạ thấp được tỷ lệ tử vong, mà còn giúp thầy thuốc lựa chọn đúng thuốc trong thuốc giúp giảm thiểu việc kháng kháng sinh.
2 Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn mỗi năm tiếp nhận khoảng 4000 đến 5000 trẻ vào điều trị, trong đó tỉ lệ mắc bệnh đường hô hấp chiếm khoảng 84,5% và có khoảng 500 trẻ dưới 5 tuổi nhập viện vì viêm phổi. Việc điều trị viêm phổi tại khoa Nhi chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm lâm sàng và theo phác đồ của Bộ Y tế, hầu như chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh viêm phổi, vấn đề xác định nguyên nhân dựa vào nuôi cấy tìm nguyên nhân gây bệnh và làm kháng sinh đồ vẫn còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, tỷ lệ chuyển tuyến do các bệnh về hô hấp tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn vẫn còn cao, trong đó chủ yếu là viêm phổi không đáp ứng với điều trị. Điều này cho thấy viêm phổi ở trẻ em độ tuổi từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bắc Kạn đang là vấn đề y tế quan trọng.
Câu hỏi đặt ra là nguyên nhân vi khuẩn gây viêm phổi thường gặp ở nhóm trẻ này là gì? Mức độ đề kháng kháng sinh của các vi khuẩn đó ra sao? Kết quả điều trị viêm phổi do vi khuẩn ở nhóm trẻ này như thế nào? Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nguyên nhân và kết quả điều trị viêm phổi do vi khuẩn ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn” với 2 mục tiêu sau: 1. Xác định tỷ lệ viêm phổi do vi khuẩn ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bắc Kạn năm 2020-2021. Đánh giá kết quả điều trị viêm phổi do vi khuẩn ở nhóm bệnh nhân nêu trên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
Tỷ lệ và nguyên nhân viêm phổi do vi khuẩn ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi 1. Một số khái niệm liên quan 1. Định nghĩa Viêm phổi là tình trạng viêm trong nhu mô phổi bao gồm viêm phế nang, túi phế nang, ống phế nang, tổ chức liên kết khe kẽ và viêm tiểu phế quản tận cùng hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi [7]. Tác nhân gây viêm phổi có thể là vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc các nguyên nhân khác [27].
Phân loại viêm phổi * Theo hình thái tổn thương viêm phổi được chia làm 3 loại: - Viêm phế quản phổi: là tình trạng viêm các phế quản nhỏ, phế nang và các tổ chức xung quanh phế nang. Tổn thương viêm rải rác khắp phổi làm rối loạn trao đổi khí, tắc nghẽn đường thở dễ gây suy hô hấp và tử vong [27]. - Viêm phổi thùy: tình trạng tổn thương nhu mô bất thường chiếm một thùy phổi. Xquang có hình ảnh đông đặc khu trú tại một thùy phổi [27].
- Viêm phổi kẽ: chỉ những bệnh phổi có tổn thương ở khoảng kẽ ở phổi, bệnh thường lan tỏa, tổn thương không đồng nhất, được xếp chung vào một nhóm do có biểu hiện lâm sàng, Xquang phổi, tổn thương mô bệnh học gần tương tự nhau [27]. * Theo hoàn cảnh mắc bệnh viêm phổi được chia thành 2 loại [79]: - Viêm phổi cộng đồng: Viêm phổi cộng đồng hay còn gọi là viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là nhiễm khuẩn cấp tính (dưới 14 ngày) gây tổn thương nhu mô phổi, kèm theo các dấu hiệu ho, khó thở nhịp thở nhanh và rút lõm lồng ngực, đạu ngực. Các triệu chứng này thay đổi theo tuổi. Viêm phổi cộng đồng là viêm phổi ở ngoài cộng đồng hoặc 48 giờ đầu tiên nằm viện [6].
4 - Viêm phổi bệnh viện: là những viêm phổi xuất hiện ở người bệnh sau khi nhập viện ≥ 48 giờ, không ở trong gia đoạn ủ bệnh hoặc mắc bệnh vào thời điểm nhập viện. Viêm phổi bệnh viện là loại viêm phổi liên quan đến chăm sóc y tế [5]. * Theo căn nguyên gây bệnh: Tác nhân gây viêm phổi có thể là vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hoặc các nguyên nhân khác [27]. * Theo mức độ nặng của bệnh: Theo WHO phân loại thành 02 loại (viêm phổi và viêm phổi nặng) [76].
Chẩn đoán Chẩn đoán viêm phổi và mức độ nặng (viêm phổi, viêm phổi nặng) ở trẻ em chủ yếu dựa vào lâm sàng. Viêm phổi - Trẻ ho, sốt kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu: -Thở nhanh: Tuổi Nhịp thở < 2 tháng tuổi ≥ 60 lần/phút 2 - ≤ 12 tháng tuổi ≥ 50 lần/phút 1-5 tuổi ≥ 40 lần/phút > 5 tuổi ≥ 30 lần/phút - Rút lõm lồng ngực (phần dưới lồng ngực lõm vào ở thì hít vào) - Nghe phổi có tiếng bất thường: ran ẩm nhỏ hạt, ran phế quản, ran nổ, giảm thông khí khu trú [7]. Viêm phổi nặng Chẩn đoán viêm phổi nặng khi trẻ có dấu hiệu của viêm phổi kèm theo ít nhất một trong các dấu hiệu sau: - Dấu hiệu toàn thân nặng: + Bỏ bú hoặc không uống được + Rối loạn tri giác: lơ mơ hoặc hôn mê 5 + Co giật - Dấu hiệu suy hô hấp nặng + Thở rên, + Rút lõm lồng ngực rất nặng + Tím tái hoặc SpO2 < 90% - Trẻ dưới 2 tháng tuổi [7]. Cận lâm sàng X-quang tim phổi thẳng: đám mờ ranh giới không rõ lan toả hai phổi hoặc hình mờ hệ thống bên trong có hình ảnh phế quản chứa khí.
Có thể thấy tổn thương đa dạng trong viêm phổi không điển hình [7]. Công thức máu và CRP: Bạch cầu máu ngoại vi, bạch cầu đa nhân trung tính, CRP máu thường tăng cao khi viêm phổi do vi khuẩn; bình thường nếu do virus hoặc do vi khuẩn không điển hình [7]. Xét nghiệm tìm nguyên nhân gây bệnh: Dịch hô hấp (dịch tỵ hầu, dịch nội khí quản, dịch rửa phế quản): soi tươi, nuôi cấy. Với vi khuẩn không điển hình, có thể chẩn đoán xác định nhờ PCR tìm nguyên nhân từ dịch hô hấp hoặc ELISA tìm kháng thể trong máu [7].
Tỷ lệ mắc viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi 1. Tỷ lệ mắc Viêm phổi là nguyên nhân gây bệnh thường gặp và gây tử vong ở trẻ em trên toàn thế giới.180 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do viêm phổi, chiếm 14% tổng số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, chiếm 22% tổng số ca tử vong ở trẻ em từ 1 đến 5 tuổi [78]. Ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc mới bệnh viêm phổi hàng năm được ước tính vào khoảng 3,3 trên 1000 trẻ ở đối tượng trẻ dưới 5 tuổi [48]. Nghiên cứu của Madhi và cộng sự năm 2013 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi ở trẻ em <1 tuổi dao động trong khoảng từ 6 đến 85 trường hợp trên 1000 trẻ em.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi ở trẻ em <5 tuổi là từ 2 đến 69 trường hợp trên 6 1000 trẻ em mỗi năm, tỷ lệ này có sự thay đổi cả trong và giữa các quốc gia [56]. Nghiên cứu của Lange và cộng sự năm 2021 nhằm đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi ở trẻ em nhập viện tại Ba Lan cho thấy có tổng số 68.543 trẻ nhập viện do viêm phổi, chiếm tỷ lệ 68% tổng số trẻ nhập viện do các bệnh hô hấp cấp tính [55]. Tại Châu Á, nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ viêm phổi trẻ em hàng năm tăng từ 30.110 bệnh nhân) phải nhập viện và 1,1% (3.770 bệnh nhân) được đưa vào khoa chăm sóc đặc biệt (ICU) [69]. Tại các nước đang phát triển tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2015 được ước tính khoảng 231 trường hợp trên 1000 trẻ.
Tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống so với năm 2000 vào khoảng 329 trường hợp trên 1000 trẻ. Tỷ lệ trẻ em bị viêm phổi nặng phải nhập viện vào khoảng 50 đến 80 phần trăm [57]. Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi nặng ước tính là 30,7 (95% CI: 28,1–33,5) trên 1000 trẻ em mỗi năm ở trẻ dưới 5 tuổi và 87,3 (95%: 80,1–95,2) ở trẻ dưới 1 tuổi [45]. Tại các nước khu vực châu phi, tỷ lệ viêm phổi có xu hướng gia tăng.
Nghiên cứu của tác giả Beletew và cộng sự năm 2020 cho thấy tỷ lệ mắc viêm phổi tại các nước khu vực Đông Phi vào khoảng 33,4% trong giai đoạn 2000 đến 2015 tăng lên 34,29% trong giai đoạn 2016 – 2019 [37]. Nghiên cứu tại Ethiopia của tác giả Demis và Mekonnen năm 2022 cho thấy trong 343 trẻ tham gia nghiên cứu, viêm phổi gặp ở 99 trẻ chiếm tỷ lệ 28,9% (95% CI: 24. Theo tác giả Abebaw và Damtie nghiên cứu tại quận Goncha Siso Enesie, tây Bắc Ethiopia, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm phổi chung ở trẻ em dưới 5 tuổi trong nghiên cứu này là 24,3% (95% CI: 20,1, 28,3) [32].