Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích trình bày các cơ sở lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu. Trình bày một số mô hình nghiên cứu và các giả thuyết, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương này lần lượt làm rõ hai vấn đề chính: một là đề cập đến các khái niệm về sản phẩm xanh, marketing xanh, ý định tiêu dùng xanh và nghiên cứu mối quan hệ giữa marketing xanh và ý định tiêu dùng xanh đã được nghiên cứu trên thế giới.
Phần hai đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần của marketing xanh và ý định tiêu dùng xanh. Sản phẩm xanh 2. Khái niệm Theo từ điển kinh tế Oxford sản phẩm xanh được xem như là một sản phẩm mà nhà cung cấp sản phẩm đó tuyên bố sẽ không gây thiệt hại cho môi trường, hoặc là một sản phẩm mới đang được đưa ra thị trường để thay thế cho các sản phẩm cũ gây ô nhiễm môi trường. Sản phẩm xanh được biết đến như là một sản phẩm sinh thái, sản phẩm thân thiện với môi trường.
Shamdasani (1993) định nghĩa sản phẩm xanh là sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường, có thể tái chế hoặc bảo tồn. Sản phẩm xanh là sản phẩm có công dụng thân thiện với môi trường và bao bì ít tác động đến môi trường. Theo Chen & Chai (2010) sản phẩm xanh dùng để chỉ các sản phẩm được kết hợp từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng an toàn với môi trường, sử dụng vật liệu ít độc hại để giảm tác hại đến môi trường tự nhiên. Krause (1993), trong nghiên cứu của ông cho thấy người tiêu dùng đang dần quan tâm hơn đến thói quen tiêu dùng hàng ngày và tác động của nó đến môi trường.
Kết quả là người tiêu dùng đã tích cực mua những sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường (Martin & Simintiras, 1995). Một sản phẩm được xem là xanh nếu đáp ứng được một trong 4 tiêu chí1: - Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường: Nếu sản phẩm chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, có thể được xem là một sản phẩm xanh. Ví dụ, một sản phẩm tái chế nhanh như tre hay bần (sử dụng để lót nền) là 1 http://moitruong.vn/san-pham-moi-truong/danh-muc-cac-san-pham-xanh-cua-viet-nam-14877.htm 7 những sản phẩm thân thiện với môi trường vì là sản phẩm được tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dầu nông nghiệp. - Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn cho môi trường và sức khỏe thay cho các sản phẩm độc hại truyền thống.
Ví dụ các vật liệu thay thế chất bảo quản gỗ như creosote, được biết là một hợp chất gây ung thư. - Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì). Ví dụ, người tiêu dùng có xu hướng sử dụng xăng sinh học giảm khí thải gây ô nhiễm môi trường. - Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khỏe.
Vật liệu xây dựng xanh là những sản phẩm tạo ra một môi trường an toàn trong nhà bằng cách không phóng thích những chất ô nhiễm quan trọng như sơn có dung môi hữu cơ bay hơi thấp, bám chắc, loại bỏ hoặc ngăn ngừa sự lan truyền chất ô nhiễm như sản phẩm từ sự thông gió hoặc bộ lọc không khí trong máy lạnh và cải thiện chất lượng chiếu sáng. Sản phẩm túi thân thiện đối với môi trường Môi trường ô nhiễm nghiêm trọng là hệ quả của hành vi tiêu dùng thiếu thân thiện với môi trường thông qua thải những rác thải sinh hoạt khó phân hủy vào môi trường sống. Vì vậy, việc nghiên cứu, sản xuất những sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế cho những sản phẩm khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên trở thành một nhu cầu thiết yếu để xây dựng cuộc sống xanh và sạch. Hiện nay có nhiều loại sản phẩm phân hủy sinh học hiệu quả và an toàn cho người sử dụng, trong đó có các loại túi thân thiện với môi trường.
Ngày 4/7/2012 Bộ TNMT đã ban hành Thông tư số 07/2012/TT-BTNMT quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận túi thân thiện với môi trường. Theo đó, Thông tư quy định túi nylon (túi nhựa) thân thiện với môi trường phải đáp ứng ba tiêu chí sau: 1. Túi nylon có một trong hai đặc tính kỹ thuật sau: a) Có độ dày một lớp màng lớn hơn 30 µm (micromet), kích thước nhỏ nhất lớn hơn 20 cm và tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu túi nylon phải có kế hoạch thu hồi, tái chế; 8 b) Có khả năng phân hủy sinh học tối thiểu 60% trong thời gian không quá 2 năm 2. Túi nylon có hàm lượng tối đa cho phép các kim loại nặng quy định như sau: Asen (As): 12 mg/kg; Cadimi (Cd): 2 mg/kg; Chì (Pb): 70 mg/kg; Đồng (Cu): 50 mg/kg; Kẽm (Zn): 200 mg/kg; Thủy ngân (Hg): 1mg/kg; Niken (Ni): 30 mg/kg.
Túi nylon được sản xuất tại hộ, tại cơ sở sản xuất tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi tường. Đối với tiêu chí thứ nhất, quy định túi nylon sau khi sử dụng có thể dễ dàng thu gom, tái chế hoặc có khả năng phân hủy sinh học. Thời gian phân hủy hoàn toàn của túi nylon trong môi trường tự nhiên khoảng 200 – 500 năm. Vì vậy, sản xuất và sử dụng túi nylon có khả năng phân hủy sinh học trong khoảng thời gian từ 2-3 năm là tốt nhất.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, túi nylon thông thường có kích thước phù hợp để thể sử dụng nhiều lần và dễ dàng thu gom tái chế khi loại bỏ, được đánh giá là loại túi thân thiện với môi trường. Việc quy định về độ dày của túi nylon có thể thay đổi sau một thời gian thực hiện tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2003, Nam Phi cấm sử dụng túi nylon hơn 30 µm, Đài Loan cấm sử dụng túi nylon mỏng hơn 60 µm. Năm 2008, Trung Quốc cấm sử dụng túi nylon mỏng hơn 25 µm.
Năm 2005, Kenya cấm sử dụng túi nylon mỏng hơn 30 µm nhưng đến năm 2011 đã cấm sử dụng túi nylon mỏng hơn 60 µm. Ngoài quy định về kích thước của túi nylon khó phân hủy, tại Thông tư còn quy định đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu túi nylon phải có kế hoạch thu hồi, tái chế. Quy định nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội của các chủ doanh nghiệp Tiêu chí thứ hai, quy định hàm lượng tối đa cho phép các kim loại nặng trong túi nylon nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người và sinh vật, đặc biệt là túi nylon có khả năng phân hủy sinh học tạo thành phân trộn sau khi phân hủy. Tiêu chí thứ ba, quy định cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Quy định này giúp các tổ chức/cá nhân sản 9 xuất túi nylon có ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn. Đồng thời, quy định rõ các sản phẩm túi nylon không được công nhận là sản phẩm túi thân thiện với môi trường khi sản xuất ở các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Khái niệm Những năm 1970, những vấn đề về môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường đất, nước, biến đổi khí hậu hay sự tuyệt chủng của một số động thực vật bắt đầu được các chính phủ, các tổ chức xã hội quan tâm, theo đó các khái niệm lần đầu tiên được xuất hiện như “Marketing xã hội” (Social marketing), “trách nhiệm của xã hội và marketing” (social responsibility and marketing), “người tiêu dùng sinh thái” (ecologically concerned consumer). Thuật ngữ “marketing xanh” lần đầu tiên được thảo luận trong một cuộc hội thảo về “tiếp thị sinh thái” do Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) tổ chức vào năm 1975.
Trong buổi hội thảo này, các tác động của tiếp thị đến môi trường tự nhiên đã được phân tích với sự đóng góp của các học giả, các quan chức và người tham gia khác, nhưng Marketing xanh chỉ mới bắt đầu nổi lên vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Ban đầu marketing xanh chỉ được hiểu ở góc độ bán hàng nên được định nghĩa là “hoạt động marketing các sản phẩm được xem là an toàn cho môi trường”. Sau đó AMA bổ sung thêm góc độ xã hội, Marketing xanh còn gọi là “phát triển và marketing các sản phẩm được thiết kế để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường hoặc nâng cao chất lượng của nó”, và từ góc độ môi trường thì marketing xanh được định nghĩa là “Sự nỗ lực của một công ty để thiết kế, chiêu thị, giá cả và phân phối sản phẩm thúc đẩy bảo vệ môi trường” (Polonsky, 2011). Có những ràng buộc về môi trường bên ngoài đến tiêu dùng xanh, phát sinh từ hoàn cảnh văn hóa, cơ sở hạ tầng, chính trị, kinh tế và xã hội tại các thị trường (Mclntosh A, 1991).
Tất cả các cá nhân và tổ chức đang trở nên quan tâm nhiều hơn và nhận thức về môi trường tự nhiên. Trong một nghiên cứu năm 1992 của 16 quốc gia, hơn 50% người tiêu dùng ở mỗi quốc gia khác so với Singapore, cho biết họ lo ngại về môi trường (Ottman 1993). Một nghiên cứu năm 1994 tại Úc cho thấy 84,6% người được khảo sát cho rằng tất cả các cá nhân có trách nhiệm bảo vệ môi trường. 10 Marketing xanh được xem là một trong những xu hướng chính trong kinh doanh hiện đại (Kassaye, 2001; McDaniel & Rylander, 1993).
Khi cuộc sống càng phát triển, con người càng quan tâm hơn đến sức khỏe, môi trường vì thế marketing xanh phát triển sẽ trở thành xu hướng chính khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm xanh góp phần phát triển nền kinh tế xanh bền vững. Soonthonsmai (2007) định nghĩa marketing xanh là các hoạt động được thực hiện bởi các công ty có mối quan tâm về môi trường hoặc các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường xanh bằng cách cung cấp các hàng hóa hoặc dịch vụ ít tác động đến môi trường và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Các định nghĩa khác về marketing xanh, Chen & Chai (2010) đề xuất marketing xanh bao gồm tiếp thị xã hội và tiếp thị sinh thái hoặc tiếp thị môi trường; những chiến lược tiếp thị này nhằm mục đích tuyên truyền đến người tiêu dùng các vấn đề về môi trường đồng thời giới thiệu những sản phẩm thân thiện với môi trường đến với người tiêu dùng.