CHƯƠNG 1 MỘT SỐ SỰ CỐ THƯỜNG GẶP VỚI CỐNG QUA ĐÊ VÀ CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ SỰ CỐ 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỐNG QUA ĐÊ. Khái niệm cống qua đê. Cống qua đê là một loại công trình thủy lợi được xây dựng dưới đê nhằm mục đích khống chế mực nước và điều tiết lưu lượng với nhiệm vụ như: Lấy nước, tiêu nước, phân lũ, giao thông… Hình 1.
Cống qua đê Tắc Giang (Duy Tiên - Hà Nam) 1. Cấu tạo của cống qua đê. Cống được cấu tạo gồm ba bộ phận: - Bộ phận nối tiếp thượng lưu; - bộ phận thân cống; - bộ phận nối tiếp hạ lưu. Bộ phận nối tiếp thượng lưu.
- Bộ phận nối tiếp thượng lưu gồm các bộ phận chính: Tường cánh thượng lưu, sân trước và có thể có thêm kênh dẫn thượng lưu. 5 - Bộ phận nối tiếp thượng lưu có tác dụng hướng dòng chảy vào cống sao cho dòng chảy được thuận dòng và ổn định, giảm được tổn thất cột nước, chống thấm và chống xói; 1. Bộ phận thân cống. - Bộ phận thân cống gồm các bộ phận chính: Bản đáy, trụ pin, trụ bên, trần cống, khe van, cửa van, khe phai, cầu công tác, cầu thả phai … - Bộ phận thân cống có tác dụng: Điều tiết, khống chế lưu lượng và mực nước, liên kết thân cống với bờ hoặc các công trình khác bên cạnh, giữ ổn định cống, chống thấm và chống xói cho nền; 1.
Bộ phận nối tiếp hạ lưu. - Bộ phận nối tiếp hạ lưu gồm các bộ phận: Tường cánh hạ lưu, thiết bị tiêu năng và có thể có kênh dẫn hạ lưu. - Bộ phận nối tiếp hạ lưu có tác dụng: Tiêu năng phòng xói, nối tiếp và phân bố đều dòng chảy ra khỏi cống. Mặt cắt dọc cống Tắc Giang (Duy Tiên - Hà Nam) 1.
MỘT SỐ SỰ CỐ THƯỜNG GẶP VỚI CỐNG QUA ĐÊ. Cống là một hạng mục quan trọng trên hệ thống đê, những năm qua do hệ thống đê được tôn cao, đắp dày nên nhiều cống phải nối dài, tải trọng tác dụng lên cống cũng lớn hơn nhiều so với thiết kế. Một số cống xây dựng mới, tuy chất lượng được nâng cao hơn trước song về thiết kế và thi công đã bộc lộ không ít tồn tại về xử lý nền, khớp nối, cửa van, bể tiêu năng, đắp đất trên và xung quanh cống… Công tác 6 quản lý vận hành cống chưa thường xuyên, khi xảy ra hư hỏng không sữa chữa kịp thời, bởi vậy khi gặp lũ lớn gây ra sự cố bất ngờ. Sự cố ở cống có thể xảy ra trong quá trình thi công như: Sạt lở ở cống Hiệp Hòa ở hệ thống thủy nông Đô Lương ở tỉnh Nghệ An; xảy ra trong quá trình quản lý, vận hành như: Sự cố cống Mai Lâm trên Đê tả sông Đuống, cống bị sự cố thấm qua vai cống năm 1957 gây vỡ đê; cống Kênh Khê trên Đê tả sông Hồng, cống bị đùn sủi, tràn đê gây vỡ đê khu vực hai bên cống năm 1915… Kết quả điều tra 855 cống qua đê trong Đề tài độc lập cấp Nhà nước “ Nghiên cứu giải pháp Khoa học Công nghệ để sữa chữa nâng cấp các cống dưới đê thuộc sông Hồng và sông Thái Bình” năm 2006 cho thấy, trên hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình có 132 cống bị hư hỏng cần sữa chữa, số liệu thống kê một số sự cố ở cống qua đê trong bảng 1.
Thống kê một số sự cố xảy ra ở cống TT Loại sự cố Số lượng (%) Loại sự cố (%) 1 Lún, nứt, chuyển vị tường, thân trần cống 57/132 (43,18) 57/240 (23,75) Lún, nứt, chuyển vị tường cánh thượng, 2 40/132 (30,3) 40/240 (16,66) hạ lưu 3 Xói, bồi bể sau tiêu năng 41/132 (31,06) 41/240 (17,08) 4 Thấm qua nền, vai cống 30/132 (22,73) 30/240 (12,5) 5 Hỏng cửa van 24/132 (18,18) 24/240 (12,66) 6 Sạt mái bảo vệ thượng, hạ lưu 23/132 (17,42) 23/240 (9,58) 7 Cống ngắn cần nối dài 14/132 (10,6) 14/240 (5,83) 8 Hỏng khớp nối 11/132 (8,33) 11/240 (4,56) Nguyên nhân chung gây ra sự cố ở cống là do khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý vận hành và một số nguyên nhân khác như: Nước lũ vượt quá mức thiết kế, thay đổi điều kiện sử dụng. Tuy nhiên với từng sự cố lại do những nguyên nhân cụ thể như sau: 1. Lún, nứt, chuyển vị tường, thân trần cống. - Hiện tượng: Xuất hiện các vết nứt trên thân cống, cao trình đỉnh cống không đảm bảo theo thiết kế, xuất hiện dòng thấm rò rỉ qua thân cống.
7 Mặt cắt ngang cống thiết kế Mặt cắt ngang cống do lún, chuyển vị Hình 1. Lún, chuyển vị tường, thân, trần cống - Nguyên nhân: Do bê tông co ngót, cường độ chịu kéo kém, đê được tôn cao làm tăng sức chịu tải của cống, phân đoạn cống không hợp lý nên khi nền lún không đều làm nứt thân cống. Khi cống bị chuyển vị vượt giới hạn cho phép sẽ gây ra nứt, vết nứt mở rộng làm nước rò rỉ qua thân cống. Lún, nứt, chuyển vị tường cánh thượng, hạ lưu.
- Hiện tượng: Xuất hiện các vết nứt ở tường cánh, trong mùa lũ tường bị chuyển vị, thường gặp ở cống có tường bằng đá xây hoặc bê tông thường, móng xử lý bằng cọc tre hoặc không xử lý bằng cọc tre. - Nguyên nhân: Do lực đẩy phía sau tường cánh lớn hơn tính toán, thi công tường cánh và đất đắp phía sau lưng tường không đảm bảo chất lượng. Xói, bồi bể sau tiêu năng. - Hiện tượng: Quan sát thấy dòng chảy không êm, không thuận; thường có dòng xoáy quẩn hoặc cuộn thỉnh thoảng còn nghe tiếng réo.
Hố xói sâu và rộng có thể sập cả tường cánh, ăn sâu vào nền cống phía hạ lưu, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn của cống. Hạ lưu cống bị xói sâu - Nguyên nhân: Hạ lưu cống không có thiết bị tiêu năng, hoặc có nhưng không đảm bảo yêu cầu chống xói; tính toán sai chế độ thủy lực sau cống, nước nhảy phát 8 sinh ngoài sân tiêu năng làm hạ lưu sân tiêu năng bị xói rất sâu; đóng mở cống không đúng quy trình. Thấm qua nền, vai cống. Từ kết quả thống kê ở bảng 1.2 ta thấy trong 132 cống bị hư hỏng cần sữa chữa, sự cố thấm có 30 cống chiếm tỷ lệ khá lớn (22,73%) [3].
Một số các cống mới xây dựng gần đây bị sự cố thấm như cống D10 (2002), cống Mai Trang (2001), cống Tắc Giang (2012)… Hiện tượng về thấm cần phải tiếp tục được nghiên cứu. Tuy nhiên với các cống xây dựng qua đê vùng đồng bằng sông Hồng, có thể đưa ra một số nhận định như sau: - Các cống qua đê đều xây dựng trên nền cát chảy, đặc trưng địa chất nền nhạy cảm về thấm chạy dọc từ Hà Nội xuống Hà Nam và Nam Định [2]; - Các cống đều xử lý đóng cọc bê tông cốt thép, một số cống có đóng cừ chống thấm [2]; - Quan sát các hiện trạng các cống bị sự cố cho thấy dòng thấm mang theo một lượng cát nền trôi xuống hạ lưu. Ví dụ như: Cống Đập Phúc đã phải bơm 360m3 vữa (cát + xi măng), Vĩnh Mộ (150m3), Tắc Giang (600m3)… Có những cống nền rỗng trên 3m, cống hầu như đứng trên đầu cọc [2]. Thấm qua nền cống.
Hiện tượng trong mùa lũ cửa cống đóng nhưng ở sân tiêu năng hay ở đoạn kênh nối tiếp sau sân tiêu năng phát sinh hiện tượng mạnh sủi, lỗ phụt. Thấm qua nền cống 9 b. Thấm qua vai cống. Hiện tượng khi mực nước sông dâng cao, quan sát ở vai cống phía đồng thấy nước rịn ra mái đê chỗ tiếp giáp giữa đê và cống, có khi nước chảy ra thành vòi.
Thấm qua vai cống c. - Do khảo sát: Tài liệu khảo sát không đầy đủ; khi khảo sát địa chất không tuân thủ chặt chẽ các quy định Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8477:2010 “Công trình thủy lợi - yêu cầu về thành phần khối lượng khảo sát địa chất trong giai đoạn lập dự án thiết kế, hoặc khảo sát theo quy định nhưng do địa chất nền khu vực xây dựng phức tạp, nên kết quả không phản ánh một cách toàn diện và chính xác tình hình thực tế của nền. Việc bảo quản và vận chuyển mẫu không đảm bảo nguyên dạng. Đối với đất cát, cát pha khi vận chuyển thường bị phá vỡ kết cấu và mất nước nên thí nghiệm mẫu không cho kết quả tin cậy; - Do thiết kế: Do khi thiết kế chưa chọn chính xác các chỉ tiêu cơ lý phản ánh đúng điều kiện địa chất thực tế của công trình.
Thiết kế không đảm bảo chiều dài chống thấm, không có cừ, tường răng chống thấm; kết cấu chống thấm không phù hợp với điều kiện địa chất; - Do thi công: + Thi công đất đắp vai cống không đảm bảo yêu cầu chống thấm: Không tuân thủ chặt chẽ quy định tại điều 11.5 của Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam TCVN 8297: 2009; đất đắp vai cống không đạt yêu cầu như quy định tại điều 8.5 Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam TCVN 8216:2009 - Thiết kế đập đất đầm nén; 10 + Thi công thiết bị chống thấm không đạt yêu cầu chống thấm: Không đảm bảo độ khít nước giữa các cừ chống thấm; thi công khớp nối không đảm bảo chất lượng; + Khi thi công làm xáo trộn hoặc phá hoại kết cấu của đất nền nguyên dạng gây mất ổn định thấm; + Khi thi công không tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật của thiết kế đề ra; thay đổi biện pháp tiêu nước hố móng nhưng căn cứ vào tài liệu địa chất, thủy văn công trình để tính toán kiểm tra xói ngầm đất nền trong thi công nhất là khi cống xây dựng ở vùng cát chảy, mực nước ngầm cao; - Do quản lý và vận hành: + Quản lý vận hành không tuân thủ chặt chẽ Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8418: 2010 - Công trình thủy lợi - quy trình quản lý vận hành duy tu bảo dưỡng cống; + Không bố trí thiết bị quan trắc thấm hoặc có nhưng kết quả quan trắc được cũng không được phân tích để kiểm tra đối chiếu với kết quả thiết kế.