MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ba kích là cây dược liệu đem lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất, cung cấp nguồn nguyên vật liệu cho ngành dược. Củ ba kích có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, chữa phong thấp cước khí, gân cốt yếu mến, lung gối mỏi đau. Ngoài ra còn có tác dụng đối với bệnh liệt dương và xuất tinh sớm.
Như vậy, cây ba kích có giá trị y dược và giá trị kinh tế cao, ngoài khai thác từ tự nhiên loại cây này đã được trồng tập trung tạo ra khu vực trồng cây hàng hóa. Quảng Ninh là một trong những vùng có diện tích canh tác ba kích lớn của cả nước, cùng với sự gia tăng về diện tích, năng suất là sự gây hại của bệnh, trong đó nguy hiểm nhất là bệnh vàng lá thối củ ba kích tím trong vài năm trở lại đây. Bệnh bắt đầu xuất hiện và gây hại sau khi trồng từ 18-24 tháng, chỉ sau một thời gian ngắn toàn bộ cây bị chết. Bệnh gây hại nặng ở huyện Ba Chẽ, điển hình là Hợp tác xã Toàn Dân.
Năm 2015, có đến 40 ha ba kích tím của hợp tác xã bị hại nặng không cho thu hoạch, nhiều diện tích trồng ba kích tím khác cũng bị nhiễm bệnh từ nhẹ cho đến trung bình, diện tích trồng ba kích tím của Hợp tác xã Toàn Dân thu hẹp đến mức báo động, từ 100 ha năm 2015 xuống còn 20-30 ha năm 2016. Bệnh vàng lá thối rễ còn được phát hiện ở các huyện khác trong tỉnh như Vân Đồn, Hoành Bồ với các mức độ nhiễm bệnh khác nhau dao động từ 3-20%. Trước sự phát sinh và gây hại của bệnh, nhiều hộ nông dân đã phải chuyển đổi diện tích trồng cây ba kích tím sang các cây trồng khác, diện tích trồng ba kích tím của tỉnh Quảng Ninh đã bị thu hẹp tới 40% (từ 400 ha xuống còn khoảng 240 ha) (Theo báo cáo năm 2015-2016 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Quảng Ninh). Tuy nhiên, cùng với quá trình canh tác tập trung và thâm canh cao đã tạo điều kiện cho bệnh hại phát sinh đặc biệt là bệnh vàng lá thối rễ ba kích.
Đây là một bệnh hại nghiêm trọng trên cây ba kích không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước khác trên thế giới. Một số tài liệu ngoài nước đã ghi nhận hai loài nấm h 2 Fusarium sp. và Fusarium oxysporum gây ra hiện tượng vàng lá thối rễ ba kích. Việt Nam bước đầu đã xác định được loài F.
oxysporum gây ra hiện tượng nói trên. Trên thực tế, nhiều loài vi sinh vật sống trong môi trường đất như nấm Fusarium, Rhizoctonia, Phytophthora, Pythium, vi khuẩn, tuyến trùng nốt sưng, rệp sáp, sâu đục củ, v. cũng tham gia gây ra hiện tượng vàng lá thối rễ của nhiều loại cây trồng. Do đó, việc xác định nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ ba kích tím tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh là cần thiết, cấp bách làm cơ sở khoa học để nghiên cứu, khuyến cáo được các giải pháp bước đầu trong quản lý tổng hợp bệnh hại ba kích tím tại Quảng Ninh.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Xác định nguyên nhân gây bệnh vàng là thối rễ cây ba kích tím tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh. Yêu cầu - Xác định nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích tím tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập - Giúp sinh viên biết triển khai một đề tài nghiên cứu và viết báo cáo khoa học. - Giúp sinh viên tiếp cận và học tập các phương pháp nghiên cứu khoa học đối với một cây trồng mới. - Sinh viên có thể áp dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất. - Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, học hỏi kinh nghiệm từ thực tế sản xuất để hoàn thiện kiến thức đã học từ nhà trường và có được kĩ năng nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ ba kích tím trong thực tiễn sản xuất. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Ba kích là cây thường mọc hoang dại ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc, đây là cây dược liệu quý, có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên trong những năm gần đây người dân đã khai thác hết và được trồng ở một số tỉnh như Quảng Ninh, Phú Thọ, Thái Nguyên.
Đây là cây trồng sinh trưởng tốt, có khả năng thích ứng rộng với điều kiện sinh thái. Tuy nhiên cũng do chuyển đổi từ điều kiện hoang dại sang trồng trọt thâm canh nên thực tế sản xuất ba kích trong nước nói chung và Quảng Ninh nói riêng đang gặp phải nhiều trở ngại về giống, kỹ thuật canh tác. Cây ba kích tại Quảng Ninh đã chịu ảnh hưởng không nhỏ của một số đối tượng bệnh hại trong đó đặc biệt là bệnh vàng lá thối rễ. Bệnh đã làm ảnh hưởng rõ rệt đến diện tích trồng ba kích đáng kể nhất là giai đoạn từ 1-2 tuổi.
Do đó, việc tiến hành nghiên cứu sẽ đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của sản xuất ba kích góp phần giảm thiểu tác hại của bệnh, đảm bảo năng suất ổn định sản xuất. Nghiên cứu về cây ba kích ngoài nước Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) thuộc Chi Morinda, họ Rubiaceae. Chi Monrinda có vài chục loài khác nhau với phần lớn là những cây bụi, gỗ nhỏ hoặc dây leo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Đa số các loài thuộc chi này bắt nguồn từ Borneo, New Guinea, phía bắc nước Úc và New Caledonia (Razafimandimbison và cộng sự, 2009)[34].
Ba kích tím có tác dụng làm tăng số lượng và chất lượng tinh trùng ở nam giới cũng như tăng cường sức dẻo dai, cải thiện hoạt động sinh dục, điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực (Cui và cộng sự, 2013[32]. Với những tác dụng y dược trên, ba kích tím không chỉ được khai thác từ rừng tự nhiên mà còn được trồng h 4 ở một số tỉnh của ở Trung Quốc bằng cả phương pháp nuôi cấy mô và nhân hom giống. Ba kích là thực vật nhiệt đới, cận nhiệt đới, phân bố ở Quảng Đông, Hải Nam, phía nam Phúc Kiến, phía tây Quảng Tây…, miền Nam Việt Nam cũng có phân bố ba kích. Thường sống ở cạnh bụi cây sườn đồi hoặc cạnh rừng ở độ cao 300m so với mực nước biển.
Nhiệt độ sống thích hợp: 20-25°C, lượng mưa 1.800mm, đất phù hợp: đất đỏ thẫm và đỏ gạch. Sống rải rác trong các khu rừng mưa và rừng thường xanh gió mùa. Cây non thích hợp sống trong bóng mát, cây trưởng thành cần nhiều ánh sáng. Nhân giống ba kích Đối với phương pháp nhân giống vô tính.
Zheng (2014)[35] khuyến cáo nên sử dụng hom giống khỏe mạnh, cắt hom dài khoảng 25cm có từ 2-3 mắt, sau đó nhúng vào dung dịch hormone sinh trưởng indole hoặc indole butyric acid đậm đặc 170mg/l và cắm hom giống vào bầu đất. Sau khi trồng, tưới nước 2 lần/ngày sao cho độ ẩm khoảng 55-60%, chú ý che nắng cho hom giống để tránh ánh nắng trực tiếp. Thường gây giống bằng phương pháp sinh sản vô tính bằng giâm cành, chọn dây to chắc của cây ba kích 2 năm tuổi, cắt lấy phần giữa dây, phần đầu quá non và phần đốt dài đều không phù hợp; khi trồng giữ lại hai mầm dài khoảng 15cm, còn lại cắt hết lá. Trồng vào mùa xuân thu, cắm nghiêng cách nhau 10cm, độ sâu bằng 2/3 cành hom, cắm xong phủ đất lên đè chặt, sau đó đậy cỏ, tưới nước.
Đợi mọc mầm, kịp thời trừ cỏ, quan sát nếu cần thiết phải dựng lều che nắng để độ ẩm khoảng 60%. Gây giống khoảng nửa năm đến 1 năm có thể trồng được. Chọn đất và đất trồng ba kích Đất vườn ươm thường chọn những nơi có độ dốc thoai thoải hoặc dưới sườn núi tương đối bằng phẳng. Loại bỏ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để giữ bóng mát, làm đất kỹ, để đất phong hóa hoàn toàn rồi mới vun thành luống.
Nên chọn đất dốc 20-30oC, nên chọn đất hướng nam hoặc đông nam dưới sườn núi rừng thưa nhiều ánh mặt trời, yêu cầu đất cát đỏ, vàng, tầng đất dầy màu mỡ, nhiều mùn, mới khai hoang. Không nên chọn đất mặt sườn phía bắc, bởi vì h 5 hướng bắc nhiệt độ khá thấp, dễ tổn thương, chết do sương giá, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống. Mùa đông làm đất, trừ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để bóng mát khoảng 40-60%, làm đất sâu 40cm, để qua đông phong hóa hoàn toàn, mùa xuân năm thứ hai, cày vỡ lại, làm ruộng bậc thang 0,8-1m, đồng thời làm rãnh thoát nước. Ở giữa ruộng bậc thang, cứ 0,5m đào một cái hố để bón phân xanh.
Thời vụ trồng ba kích Ở Trung Quốc, ba kích được trồng từ hom thân thích nghi đất hoàng thổ, nhiều mùn, tơi xốp, đủ nước, những khoảnh rừng gỗ tạp, đốn bớt cây tạo những khu trồng có độ chiếu sáng 20-30%. Nên trồng vào mùa xuân nhiều mưa, mỗi hố một gốc, mỗi mẫu trồng khoảng 3. Thời vụ trồng: Tết thanh minh, cốc vũ (có nhiều mưa). Khoảng cách trồng: cây cách cây: 0,67m.
Phân bón: Tro là chủ yếu. Thu hoạch: Sau 5-10 năm, năng suất 2000-2500 gốc/mẫu Trung Quốc đạt 1.500kg dược liệu. Bình quân mỗi gốc: 0,5-0,6kg. Như vậy, trồng ba kích ở Trung Quốc không quan tâm đến chế độ phân bón hoặc phòng trừ sâu bệnh hại, mang tính quảng canh, đầu tư thấp nên năng suất dược liệu chưa cao.
Chăm sóc: Giai đoạn đầu chú ý tưới nước giữ ẩm, trồng 2-3 năm sau chú ý sới đất, diệt cỏ, sới đất không nên quá sâu, tránh tổn thương phần rễ. Đồng thời chú ý vun đất, tránh hở gốc. Trồng năm đầu tiên, để cây phát triển to khỏe, khi cây mọc 4-5 lá có thể bón phân một lần, sau đó không cần bón nữa. Cũng giống như các cây trồng khác, cây dược liệu thường bị nhiều nhóm sâu, bệnh hại tấn công như côn trùng, nhện hại, nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và vi rút.
Việc phòng trừ sâu, bệnh hại cây dược liệu đòi hỏi độ an toàn cao với người sử dụng, các yêu cầu về dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật cần phải tuân theo những quy định khắt khe. Về sâu hại ba kích Một số sâu hại quan trọng đối với ba kích là rệp muội, rệp sáp, kiến, nhện, bọ phấn và sên. Các đối tượng dịch hại này thường gây hại mạnh trong điều kiện độc canh cây ba kích.