CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA DNNN I-NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm-bản chất của nguồn vốn đầu tư : a. Khái niệm về nguồn vốn: Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn, các yếu tố cần thiết để cấu thành nên quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc và các quan hệ đã tích lũy của mỗi cá nhân , doanh nghiệp hay một quốc gia.
Vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Tuy nhiên trong bài thảo luận này chúng ta chỉ đi xét vốn đầu tư ở khía cạnh tiềm lực tài chính của mỗi doanh nghiệp. Vốn đầu tư là tiền tiết kiệm, tích lũy của xã hội của tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ, vốn tiết kiệm của dân, vốn huy động từ nước ngoài cũng như các nguồn vốn khác được sử dụng để tái sản xuất, mở rộng, nâng cao tiềm lực kinh tế của các đơn vị. Bản chất của nguồn vốn đầu tư: Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất.
Điều này đã được các nhà kinh tế học chứng minh: Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc” viết năm 1776 AdamSmith cho rằng: “tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Nhóm 11-Kinh tế đầu tư 48C-QN 1 Đề án Kinh tế đầu tư Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu đi chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.Mac khi nghiên cứu về cân đối kinh tế,và các mối quan hệ giữa các khu vực sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề trực tiếp liên quan đến tích lũy thì C.Mac cho rằng: con đường cơ bản, quan trọng và lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “lý thuyết tổng quát về việc làm lãi suất và tiền tệ” Keynes đã chứng minh rằng: đầu tư chính bằng phần thu nhập không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng: tức là: Thu nhập = tiêu dùng + đầu tư Tiết kiệm = thu nhập – tiêu dùng Hay: đầu tư = tiết kiệm. Trong nền kinh tế thì tiết kiệm và đầu tư được xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế.
Tiết kiệm và đầu tư được luân chuyển từ người có nguồn vốn nhàn dỗi đến người cần vốn.Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng. Trong đó, tiết kiệm bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và khu vực chính phủ. Còn trong nền kinh tế mở thì tiết kiệm và đầu tư lại không còn bằng nhau. Tích lũy củ nền kinh tế có thể lớn hơn nhu câù đầu tư trong nước,khi đó vốn có thể chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư.
Ngược lại, vốn tích luỹ có Nhóm 11-Kinh tế đầu tư 48C-QN 2 Đề án Kinh tế đầu tư thể thấp hơn nhu cầu đầu tư trong nước, khi đó nền kinh tế lại phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Tóm lại, nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, để có vốn thực hiện việc tái sản xuất, mở rộng quy mô, phát triển sản xuất, góp phần làm tăng năng lực sản xuất của xã hội thì chúng ta phải thực hiện tiết kiệm trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng như trong tung doanh nghiệp. Nguồn tiết kiệm mà nền kinh tế có thể huy đông để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm có tiết kiệm trong dân,tích lũy của các doanh nghiệp, của chính phủ, các tổ chức kinh tế, ngoài ra còn từ nguồn kiều hối, quỹ hỗ trợ tín dụng của các tổ chức TMQT. Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy tiết kiệm được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất và tích lũy của nền kinh tế và doanh nghiệp Vốn chính là chìa khóa để thực hiện mọi mục tiêu của doanh nghiệp.
Vốn có tầm quan trọng như dòng máu nuôi sống các hoạt động trong các doanh nghiệp 2. Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp Để thành lập một DN và tiến hành các họat động sản xuất kinh doanh thì vốn là điều kiện không thể thiếu. Nó phản ánh các nguồn lực tài chính đầu tư vào quá trình hoạt động của DN. Nguồn vốn của DN gồm có các lọai sau: a.
vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Bao gồm có: - Vốn góp ban đầu - Tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới. - Lợi nhuận không chia Nhóm 11-Kinh tế đầu tư 48C-QN 3 Đề án Kinh tế đầu tư Vốn góp ban đầu (vốn tự có của DN) : là khoản đầu tư ban đầu khi thành lập DN. Đối với DNNN thì đó là vốn đầu tư của ngân sách nhà nước. Đối với công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thì nguồn vốn ban đầu do các cổ đông hoặc thành viên của công ty đóng góp để hình thành nên.
Phát hành cổ phiếu: đối với công ty cổ phần thì vốn kinh doanh còn có thể huy động thêm từ việc phát hành cổ phiếu thông qua thị trường chứng khoán. Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán của công ty phát hành, số tiền tích lũy của các nhà đầu tư sẽ đưa vào sản xuất kinh doanh. DN sẽ huy động được khối lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư. Đối với công ty TNHH thì chỉ có thể phát hành trái phiếu,không thể phát hành cổ phiếu.
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia (nguồn vốn nội bộ của DN), đây là bộ phận lợi nhuận được giữ lại để sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của DN. Các nguồn vốn này đóng vai trò quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của DN, nó mang lại cho các DN thế chủ động hoàn toàn trong quá trinh hoạt động. Giúp DN đưa ra được các quyết sách kịp thời, nắm bắt đúng thời cơ và cơ hội để đạt được những mục tiêu của mình mà không phải tìm kiếm và phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tài trợ bên ngoài. Nguồn vốn vay: Tín dụng ngân hàng Có thể nói rằng,ngoài phần vốn tự có của DN thì vốn vay cung có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Không một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không cần đến vay vốn ngân hàng. Sự phát triển Nhóm 11-Kinh tế đầu tư 48C-QN 4 Đề án Kinh tế đầu tư và hoạt động của các DN gắn liền với các dịch vụ tài chính do các NHTM cung cấp, trong đó có việc cung cấp vốn. Ngân hàng có thể đáp ứng được các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn, trong dài hạn, DN có thể huy động được số vốn lớn, tức thời nếu thỏa mãn được các điều kiện mà ngân hang đưa ra. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn phải hết sức chú trọng đến cơ cấu vốn của DN.
Kế hoạch sử dụng vốn phải hợp lý,đúng mục đích, quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải được thiết lập bám sát thực tế. Nếu không thì vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với DN Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại) Đây là một nguồn tương đối quan trọng trong DN. Đây là một nguồn được hình thành một cách tự nhiên trọng quan hệ mua bán chịu, trả chậm, trả góp. Các DN chiếm dụng nguồn tiền hàng chưa phải trả ngay cho nhà cung cấp để sử dụng làm vốn kinh doanh.
Nguồn tín dụng thương mại này có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các DN mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong một số DN nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, một số DN còn chiếm tới 40% tổng nguồn vốn. Nguồn vốn này là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn do phát hành trái phiếu.
Trái phiếu là giấy nợ dài hạn và trung hạn, bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. Trái phiếu này do DN hoặc chính phủ phát hành nhằm xác nhận nghĩa vụ phải trả cả gốc lẫn lãi của đơn vị phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Trái phiếu được DN phát hành khi DN có nhu cầu huy động vốn để triển khai các dự án, kế hoạch hoạt động kinh doanh của DN. Qua hoạt động này DN có thể huy động Nhóm 11-Kinh tế đầu tư 48C-QN 5 Đề án Kinh tế đầu tư được một lượng vốn lớn dài hạn từ các cá nhân, các tổ chức trong nền kinh tế để mở rộng quy mô hoạt động, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới cộng nghệ.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của DN và tình hình trên thị trường tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu. Các nguồn khác: Ngoài ra còn có các nguồn vốn khác như: quỹ khen thưởng,lương cán bộ công nhân viên chậm thanh toán… II. CÁC NGUỒN VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA DNNN 1.
Khái quát về DNNN. Định nghĩa về DNNN: Theo luật DNNN (2003)DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN sở hữu toàn bộ số vốn điều lệ hoặc giữ 50% vốn điều lệ.