đặt vấn đề như đã trình bầy ở mục trên, chúng tôi trình bầy về phân loại rào cản trong thương mại quốc tế theo 2 nhóm lớn là: rào cản thuế quan và phi thuế quan. Rào cản thuế quan: Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong thương mại quốc tế do vậy trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa § biên và song phương đều nổi lên chủ đề về cắt giảm thuế quan để đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại. Các quy định của WTO không đề cập một cách cụ thể rằng các nước phải ràng buộc loại thuế nào vì trong thực tiến thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau: * Các loại thuế: có 3 loại thuế quan phổ biến như sau: - Thuế phần trăm: (ad- valorem tariff) được đánh theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu. Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất nhưng nhìn chung còn ở mức cao nên WTO kêu gọi tất cả các nước thành viên tiếp tục cam kết cất giảm.
- Thuế phi phần trăm: (non- ad valorem tariff) bao gồm ba loại: + Thuế tuyệt đối: Thuế xác định bằng một khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập khẩu. Đây là loại thuế được các nước áp dụng nhiều nhất đối với các mặt hàng nông sản. + Thuế tuyệt đối thay thế quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần trăm hay thuế tuyệt đối. + Thuế tổng hợp là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối.
Chẳng hạn, mặt hàng sữa nhập khẩu vào Nhật Bản phải chịu mức thuế 21,3% + 54 Yén/kg. 3 loại thuế trên được áp dụng chủ yếu cho hàng nông sản. Có những nước như Thụy Sĩ thì 100% số dòng thuế trong biểu thuế quan là thuế tuyệt đối, nhiều nước sử dụng các loại thuế khác nhau tuỳ theo mặt hàng và ghi rõ trong biểu cam kết về cắt giảm thuế quan. - Thuế quan đặc thù, bao gồm nhiều loại như: hạn ngạch thuế quan, thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá, thuế thời vụ và thuế bổ sung.
+ Hạn ngạch thuế quan là một biện pháp quản lý nhập khẩu với 2 mức thuế suất nhập khẩu. Hàng hoá trong hạn ngạch thuế quan thì có mức thuế suất thấp còn ngoài hạn ngạch thuế quan thì chịu mức thuế suất cao hơn (Ví dụ, các nước OECD có mức thuế trong hạn ngạch tính trung bình với hàng nông sản là 36% nhưng ngoài hạn ngạch thì mức thuế là 120%). Theo tư liệu của WTO, các nước có số lượng hạn ngạch nhiều nhất gồm Na Uy (232), Ba Lan (109), EU ci (90), Bungari (73), Hungari (70), Hàn Quốc (67), Colombia (67), Hoa Ky (54), Nam Phi (53). + Thuế đối kháng hay còn gọi là thuế chống trợ cấp xuất khẩu.
Đây là một khoản thuế đặc biệt đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp. + Thuế chống bán phá giá là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. + Thuế thời vụ là loại thuế với mức thuế suất khác nhau cho cùng 1 loại sản phẩm. Thông thường được áp dụng cho mặt hàng nông sản, khi vào thời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khi hết thời vụ thì trở lại mức thuế bình thường.
+ Thuế bổ sung là một loại thuế được đặt ra để thực hiện biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp. Các Chính phủ có thể áp dụng thuế bổ sung cao hơn mức thuế thông thường nếu như khối lượng hàng nhập khẩu của sản phẩm đó tăng lên quá cao gây ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có nguy cơ làm mất đi một ngành sản xuất nào đó trong nước. Trong biểu thuế xuất, nhập khẩu của các nước thường có nhiều loại thuế cụ thể khác nhau cho cùng một loại sản phẩm và sự chênh lệch nhau rất lớn giữa các loại thuế. Sự chênh lệch giữa các loại thuế là do các quy định về “ưu đãi quyết định.
Nếu hàng hoá của một nước nào đó phải chịu thuế suất thông thường hoặc kém ưu đãi hơn so với nước khác thì chính điều đó sẽ trở thành rào cản thuế quan. Hiện có một số loại thuế cụ thể được áp dụng trong thương mại quốc tế như sau: - Thuế phi tối huê quốc (Non- MEN) còn gọi là thuế suất thông thường. Đây là mức thuế cao nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và chưa ký kết Hiệp định thương mại song phương với nhau. Thuế này có thể nằm trong khoảng từ 20-1 10%.
- Thuế tối huê quốc (MEN): là loại thuế mà các nước thành viên WTO áp dụng cho những nước thành viên khác hoặc theo các Hiệp định song phương về ưu đãi thuế quan. Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều so với thuế suất thông thường. - Thuế quan ưu đãi phổ câp (GSP); là loại thuế ưu đãi cho một số hàng hoá nhập khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp phát triển cho hưởng GSP. Mức thuế này thấp hơn mức thuế tối huệ quốc.
19 - Thuế áp dung đối với các khu vực thương mại tư do: Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mật hàng. Hiện tại có rất nhiều khu vực tự đo đã được hình thành và trong các Hiệp định này thuế suất là rất thấp hoặc bằng không (tức là ưu đãi về thuế rất cao). - Các loại thuế quan ưu đãi khác: Một số nước tham gia ký kết các Hiệp định chuyên ngành như Hiệp định thương mại máy bay dân dụng, Hiệp định thương mại các sản phẩm được, sản phẩm ô tô. cũng dành cho nhau các ưu đãi thuế quan đặc biệt đối với các sản phẩm này.
Rao can phi thué quan Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là các biện pháp kỹ thuật, có những biện pháp bất buộc phải thực hiện và có những biện pháp tự nguyện. Chính vì có sự “giao thoa” nhau giữa các loại do đó việc phân loại chỉ tiết theo một tiêu thức thống nhất là rất khó khăn. Sau đây là một số rào cản phi thuế quan chủ yếu: - Các biên pháp cấm: Trong số các biện pháp cấm được sử dụng trong thực tiễn thương mại quốc tế có các biện pháp như cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số hàng hoá nào đó, cấm phần lớn các doanh nghiệp mà chỉ cho doanh nghiệp được xác định xuất khẩu hoặc nhập khẩu (ví dụ: chất nổ, hoá chất chuyên ngành.) - Han ngach xuất khẩu, nhập khẩu: đó là hạn ngạch về số lượng hoặc trị giá được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Hạn ngạch này có thể do nước nhập khẩu hoặc xuất khẩu tự áp đặt một cách đơn phương nhưng cũng có loại hạn ngạch được áp đặt trên cơ sở tự nguyện của bên thứ hai (hạn ngạch xuất khẩu tự nguyện).
- Cấp giấy phép xuất nhâp khẩu: Có 2 loại giấy phép là giấy phép về quyền hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và giấy phép xuất nhập khẩu đối với một số loại hàng hoá hoặc phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu nào đó. Chẳng hạn là giấy phép cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép mua, bán hàng hoá trên thị trường nội địa, giấy phép nhập khẩu thuốc lá điếu và rượu ngoại, giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất. Ngoài ra còn có 2 hình thức cấp phép là cấp phép tự động và không tự động. Sử dụng các biện pháp cấp phép không tự động cũng dẫn tới các rào cản thương mại về thủ tục hành chính và chỉ phí tăng.
11 - Các thủ tục hải quan: Nếu các thủ tục hải quan đơn giản, nhanh chóng thì đây chỉ là biện pháp quản lý thông thường nhưng nếu thủ tục quá phức tap, chậm chạp thì sẽ trở thành các rào cản phi thuế quan. Chẳng hạn, các quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan, quy định về trị giá tính thuế hải quan. cũng sẽ trở thành rào cản khi mà nó chưa hoặc không phù hợp với quy định về hài hoà thủ tục hải quan. - Các rào cản kỹ thuât trong thương mại quốc tế (TBT): Đó là các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn.
Hiện có rất nhiều các quy định và hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng trên thế giới mà các nước cho là phù hợp. Song lại có rất ít phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn quốc tế mà các nước đều công nhận hợp chuẩn. Do còn có sự khác biệt nhau như vậy nên nó đã trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. WTO đã phải thống nhất các nguyên tắc chung và được cam kết tại Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại nhưng cách thức mà các nước đang áp dụng thường tạo ra sự phân biệt đối xử hay hạn chế vô lý đối với thương mại.
- Các biên pháp về sinh động - thưc vât (SPS): Theo Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO thì các biện pháp vệ sinh động - thực vật bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu cầu và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng; các quá trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp thuận; xử lý kiểm địch kể cả yêu cầu gấn với việc vận chuyển động vật hay thực vật hay gắn với các nguyên liệu cần thiết cho sự tồn tại của chúng trong khi vận chuyển; thủ tục lấy mẫu và đánh giá nguy cơ; các yêu cầu đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm. Vì định nghĩa của WTO về “mức độ bảo vệ động - thực vật phù hợp” rất chung chung như “mức bảo vệ được xây dựng nên” lại được chính nước đó “coi là phù hợp” nên các nước công nghiệp phat triển thường đưa ra các mức quá cao khiến cho hàng hoá của các nước đang phát triển khó thâm nhập. Đây là một trong những loại rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tính vi.