CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT THẢI KHÍ CO2 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chất lượng môi trường liên tục xuống cấp là một trong những vấn đề cấp bách nhất mà thế giới phải đối mặt và là một trong những chủ đề được thảo luận nhiều nhất trong các nghiên cứu kinh tế môi trường hiện đại. Các lý do cho sự gia tăng lượng khí thải CO2 đã được thảo luận trong nhiều tài liệu với các tác động của nhiều yếu tố khác nhau. Các nghiên cứu về các yếu tố tác động phát thải khí CO2 tại các quốc gia và khu vực trên thế giới Ying Fan, Lan-Cui Liu, Gang Wu, Yi-Ming Wei (2006) với đề tài “Analyzing impact factors of CO2 emissions using the STIRPAT model”.
Sử dụng hồi quy PLS cho mô hình STIRPAT, bài viết này phân tích tác động của GDP, dân số, công nghệ (đo bằng mức năng lượng tiêu thụ), đô thị hoá và dân số 15 – 64 tuổi đến tổng lượng phát thải CO2 của các quốc gia ở các mức thu nhập khác nhau (tiêu chí lựa chọn theo định nghĩa của World Bank), trong giai đoạn 1975 - 2000. Nhìn chung, những kết quả thực nghiệm này chỉ ra rằng tác động của dân số, mức sống sung túc và công nghệ đến lượng khí thải CO2 là khác nhau ở các mức độ phát triển khác nhau. Chuanguo Zhang, Xiangxue Zhou (2016) với đề tài “Does foreign direct investment lead to lower CO2 emissions? Evidence from a regional analysis in China”. Hồi quy FGLS cho mô hình “Tác động ngẫu nhiên của hồi quy dân số, sự sung túc và công nghệ” (STIRPAT - Stochastic Impacts by Regression on Population, Affluence, and Technology) đã được áp dụng để điều tra tác động của FDI đến lượng khí thải CO2 của Trung Quốc ở cấp quốc gia và khu vực bằng cách sử dụng dữ liệu bảng cấp tỉnh từ năm 1995 đến năm 2010.
Kết quả cho thấy FDI góp phần giảm phát thải CO2 ở Trung Quốc. Tác động của FDI tới lượng khí thải CO2 giảm dần từ miền Tây đến miền Đông và miền Trung. Phát hiện của nghiên cứu ủng hộ giả thuyết Vầng hào quang ô nhiễm (Pollution Halo Hypothesis). Muhammad Shahbaz, Nanthakumar Loganathan, Ahmed Taneem Muzaffar, Khalid Ahmed, Muhammad Ali Jabran (2016) với đề tài “How urbanization affects CO 2 emissions in Malaysia? The application of STIRPAT model”.
Sử dụng phương pháp đồng liên kết kết hợp Bayer – Hanck, phương pháp kiểm tra giới hạn ARDL, nhân quả VECM Granger, bài viết đã điều tra tác động của đô thị hóa đối với lượng khí thải CO2 bằng cách áp dụng mô hình “Tác động ngẫu nhiên của hồi quy dân số, sự sung túc và công nghệ” (STIRPAT) trong trường hợp của Malaysia giai đoạn 1970Q1–2011Q4. Kết quả xác nhận tăng trưởng kinh tế là nguyên nhân chính gây ra lượng khí thải CO2. Ngoài ra, tiêu thụ năng lượng làm tăng cường độ phát thải và trữ lượng vốn làm tăng tiêu thụ năng lượng. Mở cửa thương mại dẫn đến sự sung túc và do đó làm tăng lượng khí thải CO2.
Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa đô thị hóa và lượng khí thải CO2 có hình chữ U, tức là đô thị hóa ban đầu làm giảm lượng khí thải CO2, nhưng sau một ngưỡng, nó lại làm tăng lượng khí thải CO2. Phân tích nhân quả cho thấy quá trình đô thị hóa Granger gây ra lượng khí thải CO2. Nahla Samargandi (2017) với đề tài “Sector value addition, technology and CO2 emissions in Saudi Arabia”. Áp dụng phương pháp độ trễ phân tán tự hồi quy (ARDL), nghiên cứu này đánh giá giả thuyết Đường cong Kuznets Môi trường (EKC) với trường hợp nghiên cứu của Ả Rập Saudi bằng cách xem xét ba kênh trong quan hệ với lượng khí thải CO2: khối lượng sản xuất, giá trị gia tăng của ngành trong GDP và đổi mới công nghệ, sử dụng tập dữ liệu chuỗi thời gian từ 1970 đến 2014.
Kết quả nghiên cứu này phủ nhận sự tồn tại của giả thuyết EKC trong trường hợp của Ả Rập Saudi, vì tăng trưởng GDP và lượng phát thải CO2 có mối tương quan dương và tuyến tính cả trong ngắn hạn và dài hạn. Kết quả cũng cho thấy giá trị gia tăng của tăng trưởng trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ là nguyên nhân khiến phát thải CO2 tăng nhanh hơn, trong khi giá trị gia tăng của nông nghiệp có mối liên hệ tiêu cực nhưng không đáng kể với lượng phát thải. Cuối cùng, nghiên cứu này cho thấy đổi mới công nghệ không có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp giảm lượng khí thải CO2. Smruti Ranjan Behera, Devi Prasad Dash (2017) với đề tài “The effect of urbanization, energy consumption, and foreign direct investment on the carbon dioxide emission in the SSEA (South and Southeast Asian) region”.
Sử dụng kiểm định đồng liên kết Pedroni và Westerlund, nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa đô thị hóa, tiêu thụ năng lượng, đầu tư trực tiếp nước ngoài và lượng khí thải carbon dioxide (CO2) của 17 quốc gia ở khu vực Nam và Đông Nam Á (SSEA) trong giai đoạn 1980 - 2012. Từ tổng thể 17 quốc gia, kết quả ước tính cho thấy rằng tiêu thụ năng lượng sơ cấp, tiêu thụ năng lượng hoá thạch (trừ các quốc gia thu nhập thấp) và FDI đang làm tăng đáng kể lượng phát thải CO2 và suy thoái môi trường ở khu vực SSEA. Muhammad Khalid Anser (2019) với đề tài “Impact of energy consumption and human activities on carbon emissions in Pakistan: application of STIRPAT model”. Công trình nghiên cứu ước tính khung STIRPAT thông qua sử dụng mô hình độ trễ phân phối hồi quy tự động (ARDL) và mô hình sửa lỗi (ECM), nhằm xem xét tác động của việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, tiêu thụ năng lượng không thể tái tạo, dân số, mức độ sung túc và nghèo đói đối với lượng khí thải carbon ở Pakistan, dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1972 đến năm 2014.
Kết quả cho thấy việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, tăng trưởng dân số, cải thiện mức sống sung túc và đô thị hóa là những yếu tố góp phần làm tăng lượng khí thải carbon ở Pakistan. Tuy nhiên, kết quả cũng chỉ ra rằng việc tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sử dụng và tiêu thụ năng lượng thủy điện có khả năng giảm lượng khí thải carbon ở Pakistan. Danish (2019) với đề tài “Effects of information and communication technology and real income on CO2 emissions: The experience of countries along Belt and Road”. Để ước lượng thực nghiệm, nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát (Generalized Least-square) để phân tích mối quan hệ giữa công nghệ thông tin, thu nhập thực tế và lượng khí thải CO2 trong khi xem xét vai trò của thương mại quốc tế và FDI ở 59 quốc gia dọc theo Vành đai và Con đường, từ năm 1990 đến năm 2016.
Kết quả tóm tắt rằng các quốc gia dọc theo Vành đai và Con đường ủng hộ giả thuyết EKC và công nghệ thông tin giảm thiểu mức phát thải CO2 ở các nước này. Hơn nữa, tác động điều tiết của CNTT và đầu tư trực tiếp nước ngoài làm giảm lượng khí thải CO2 và sự tương tác giữa công nghệ thông tin và thương mại quốc tế cũng có tác dụng tương tự. Lassad Ben Dhiab, Hichem Dkhili (2019) với đề tài “Impact of income, trade, urbanization, and financial development on CO2 emissions in the GCC countries”. Bài viết sử dụng mô hình kinh tế lượng, kỹ thuật đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả Granger và VECM, để điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa thu nhập, thương mại, đô thị hóa và phát triển tài chính đối với mức độ phát thải CO2, mẫu dữ liệu bảng gồm các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), giai đoạn 1995 – 2016.
Kết quả đã chứng minh mối quan hệ tích cực và đáng kể lâu dài giữa các biến thu nhập, thương mại, đô thị hóa, phát triển tài chính và lượng khí thải CO2. Ngoài ra, kết quả cho thấy mức thu nhập quốc gia và đô thị hóa cao hơn sẽ tạo ra mức phát thải CO2 cao. Phát triển tài chính có tác động tích cực đến mức phát thải CO2. Và độ mở thương mại ảnh hưởng tiêu cực đến lượng khí thải CO2.
Asim Anwar, Mustafa Younis và Inayat Ullah (2020) với đề tài “Impact of Urbanization and Economic Growth on CO2 Emission: A Case of Far East Asian Countries”. Áp dụng mô hình Fixed effect dữ liệu bảng, nghiên cứu này xem xét các yếu tố chính quyết định lượng phát thải CO2 ở các nước Viễn Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc-Nam Triều Tiên và Indonesia), giai đoạn 1980 - 2017. Nghiên cứu cho thấy đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại quyết định đáng kể lượng khí thải CO2 ở các quốc gia được chọn. Sidi Mohammed Chekouri, Abderrahim Chibi, Mohamed Benbouziane (2020) với đề tài “Examining the driving factors of CO2 emissions using the STIRPAT model: the case of Algeria”.
Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất từng phần PLS (Partial least squares regression) được áp dụng để kiểm tra mô hình STIRPAT nhằm xác định các yếu tố quyết định thúc đẩy lượng phát thải CO2 ở Algeria trong giai đoạn 1971–2016. Kết quả chỉ ra rằng dân số có tác động tích cực và đáng kể đến lượng khí thải CO2. Việc sử dụng năng lượng được coi là yếu tố góp phần thứ hai vào lượng khí thải CO2, sau đó là đô thị hóa và mức sống sung túc (GDP bình quân đầu người). Muhammad Zahid Rafique, Yafei Li, Abdul Razaque Larik và Malepekola Precious Monaheng (2020) với đề tài “The effects of FDI, technological innovation, and financial development on CO2 emissions: evidence from the BRICS countries”.
Công trình này tìm hiểu tác động của các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài, đổi mới công nghệ và phát triển tài chính đối với lượng khí thải carbon ở các quốc gia thành viên BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, and Trung Quốc), với dữ liệu từ năm 1990 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu: (1) Ước lượng Augmented Mean Group (AMG) cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài, đổi mới công nghệ và phát triển tài chính ở các nước BRICS có mối liên hệ tiêu cực và có ý nghĩa thống kê trong dài hạn với lượng khí thải CO2, trong khi tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại, đô thị hóa và sử dụng năng lượng được phát hiện là đóng góp có ý nghĩa thống kê và tích cực với lượng khí thải carbon. (2) Kiểm định nhân quả dữ liệu bảng Dumitrescu và Hurlin để kiểm tra hướng của quan hệ nhân quả.