Phần mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài Việt Nam cuối thế kỷ XX đặt trong thời kỳ là một đất nước đang phát triển, đón nhận nhiều sự thay đổi và thách thức từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mang đến hàng vạn cơ hội đầu tư cho các chủ thể kinh tế, không chỉ kinh tế Nhà Nước mà còn bao gồm kinh tế tư nhân và các chủ thể kinh tế khác. Quá trình hội nhập và phát triển dẫn đến nhu cầu tất yếu khách quan phải thiết lập một thị trường vốn trung dài hạn chính là tiền đề hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam. Chính thức mở cửa từ tháng 07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế và doanh nghiệp. Sau gần 20 năm hoạt động, tổng giá trị huy động thông qua TTCK từ khi khai trương đến đầu năm 2017 đã đạt trên 2 triệu tỷ đồng tương đương với 60% nguồn vốn tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng trên cả nước (Vũ Bằng, 2017).
Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn về TTCK Việt Nam trở nên cần thiết, đặc biệt là các hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán. Các hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán đa đạng giữa hai chủ thể chính là đối tượng thặng dư và đối tượng thâm hụt vốn, nhưng hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán không gói gọn trong việc phát hành cổ phiếu hay mua cổ phần của các công ty khác, doanh nghiệp tham gia TTCK kèm theo các mục tiêu quản trị chiến lược như phân phối tiền mặt, thâu tóm hay nâng đỡ giá trị của công ty … thông qua các chương trình phát hành cổ phần, mua lại cổ phiếu quỹ, đây cũng là điểm khác biệt giữa TTCK và các thị trường hàng hóa khác. Một trong những hoạt động đáng chú ý của doanh nghiệp là mua lại cổ phiếu đã phát hành của chính mình, trong trường hợp này cổ phiếu được mua lại gọi là cổ phiếu quỹ. Việc doanh nghiệp mua lại cổ phiếu quỹ hàm chứa nhiều mục đích: mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt chưa có mục đích sử dụng nhằm cải thiện EPS cho nhà đầu tư; mua lại cổ phiếu làm tăng quyền kiểm soát của ban điều hành; mua lại cổ phiếu và bán ra khi giá cổ phiếu tăng nhằm thu lợi nhuận; mua lại cổ phiếu khi ban điều hành tin tưởng rằng giá cổ phiếu của công ty đang giao dịch dưới giá trị 2 thực; mua lại cổ phiếu để phát hành cho nhân viên (ESOP); mua lại cổ phiếu nhằm nâng đỡ giá cổ phiếu, giữ gìn uy tín công ty… Vậy những yếu tố nào sẽ tác động đến việc mua lại cổ phiếu của một doanh nghiệp trong thực tế và tác động theo chiều hướng nào, trong khuôn khổ bài viết, tác giả xin tập trung vào nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam”.
Nghiên cứu này cũng tương tự như các nghiên cứu của Subba Reddy Yarram (2014), Dimitris Andriosopoulos và Hafiz Hoque (2013) xem xét các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017. Câu hỏi nghiên cứu: Các yếu tố nào tác động đến việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017? 1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh (Hose) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ năm 2008 đến năm 2017. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: Các cổ phiếu niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2017.
Phạm vi nội dung: Các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên SGDCK TP Hồ Chí Minh và SGDCK TP Hà Nội.4 Phương pháp nghiên cứu Tác giả thu thập các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học có đề tài tương tự làm cơ sở lý luận. Thực hiện thu thập dữ liệu thứ cấp tiến hành tổng hợp, thống 3 kê và xử lý số liệu, sử dụng phương pháp định lượng để xây dựng mô hình hồi quy, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng phần mềm Stata 14, sử dụng mô hình probit, xtprobit để phân tích, kiểm định mô hình các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của các công ty niêm yết trên SGDCK Việt Nam.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những ý nghĩa thực tiễn cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán như sau: - Nhận diện được các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của một công ty trên SGDCK Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội một cách khoa học. - Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến việc mua lại cổ phần của một công ty trên SGDCK Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội. 2 Tổng quan lý thuyết về mua lại cổ phần 2.1 Khái niệm, mục đích của việc mua lại cổ phần Mua lại cổ phiếu là việc công ty mua lại chính cổ phiếu đã phát hành trước đó, cổ phiếu được mua lại được gọi là cổ phiếu quỹ.
Việc mua lại cổ phiếu quỹ sẽ làm giảm lượng cổ phiếu đang lưu hành nghĩa là các cổ đông của công ty sau đó sẽ nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao hơn. Cổ phiếu được mua lại sẽ được hủy hoặc được giữ lại để tái phát hành tùy thuộc vào quy tắc, quy định của từng quốc gia. Ở Ấn Độ, Úc, Thụy Điển, Canada, Pháp và Vương Quốc Anh, các công ty phải hủy bỏ cổ phiếu khi mua lại, ở các quốc gia như Mỹ, Tây Ban Nha cổ phiếu mua lại được lưu kho để tái phát hành, ở Italia các công ty có thể hủy bỏ hoặc lưu kho để tái phát hành cổ phiếu mua lại (Sarthak Kumar Jena, 2016). Tại Việt Nam, các công ty có thể hủy cổ phiếu mua lại hoặc tái phát hành tùy thuộc vào quyết định của từng công ty.
Mục đích mua lại cổ phần Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc công ty đưa ra quyết định mua lại cổ phiếu: 4 Cổ phiếu đang bị định giá thấp: Việc mua lại cổ phiếu phát đi tín hiệu cho thấy ban điều hành đang tin tưởng rằng cổ phiếu của công ty đang bị giao dịch dưới giá trị thực, họ đang lạc quan vào sự phát triển của công ty trong tương lai. Cơ hội đầu tư tài chính của chính công ty: Ban điều hành tin tưởng vào sự tăng giá cổ phiếu trong tương lai, công ty mua lại cổ phiếu và bán ra khi giá tăng sẽ thu được lợi nhuận từ phần chênh lệch. Nguồn tiền mặt dư thừa: Công ty sử dụng nguồn tiền mặt chưa có mục đích sử dụng là giảm số lượng cổ phiếu lưu hành, thông qua chương trình mua lại cổ phiếu, với số cổ phiếu phổ thông giảm xuống đồng nghĩa với EPS được cải thiện. Thay đổi cơ cấu tài trợ vốn: Ban điều hành nhận thấy chi phí sử dụng vốn chủ cao hơn chi phí đi vay và việc thay đổi cơ cấu nợ trên vốn chủ sẽ mang đến hiệu quả đầu tư tối ưu hơn.
Mua lại cổ phiếu để chống lại sự pha loãng và tiếp quản. Mua lại cổ phiếu nhằm tăng tỷ lệ nắm giữ và tăng quyền kiểm soát cho ban điều hành. Công ty cũng có thể mua lại cổ phiếu để dành cho những chương trình cổ phiếu giành cho nhân viên hay chương trình hưu trí hoặc nâng đỡ giá cổ phiếu, giữ gìn uy tín cho công ty… Tuy nhiên việc mua lại cổ phiếu không luôn luôn đi kèm với tín hiệu tốt: Công ty phải dành một lượng tiền lớn để mua lại cổ phiếu quỹ nên có thể gặp rắc rối với dòng tiền, thiếu hụt vốn khi có cơ hội đầu tư bất ngờ. Mua lại cổ phiếu có thể là tín hiệu cho thấy ban lãnh đạo muốn làm hài lòng cổ đông, sau đó đưa ra yêu sách đi kèm.
Mua lại cổ phiếu cũng có thể phát đi thông điệp rằng ban lãnh đạo đang hạn chế trong khả năng cải thiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và phải làm hài lòng cổ đông bằng cách kéo giá cổ phiếu.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu Theo nghiên cứu của Sarthak Kumar Jena (2016) mua lại cổ phiếu được coi là một phương thức thanh toán tồn tại ở Mỹ từ năm 1950, lan dần sang Anh vào những 5 năm 1980, khi đó mua lại cổ phiếu được coi là một công cụ tài chính và được chấp nhận trên toàn thế giới vào những năm 1990. Trong giai đoạn này, việc mua lại cổ phiếu bắt đầu ở Pháp và Đức (1998), Nhật Bản (1995), Malaysia (1997), Singapore và Hồng Kông (1998) và Đài Loan (2000) nhưng sự gia tăng đáng kể trong hoạt động mua lại bắt đầu từ năm 1980 đến năm 2000. Trong suốt hai thập kỷ các công ty ở Mỹ chi nhiều tiền mua lại hơn chi cổ tức. Sự tăng trưởng bất thường của việc mua lại như một phương thức thanh toán đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu về nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy các công ty mua lại, nghiên cứu về việc mua lại cổ phần đã đưa ra nhiều giả thuyết: Giả thuyết về chi phí đại diện: Jensen, M.
C (1986) đưa ra nhận định về chi phí đại diện của doanh nghiệp, chi phí đại diện phát sinh vì người trong công ty có khả năng sử dụng các nguồn lực nội bộ theo cách mang lại lợi ích cho họ nhiều hơn người bên ngoài. Việc mua lại cổ phần được coi là hành động nhằm giảm xung đột phát sinh từ chi phí đại diện. Các công ty lớn có khả năng phải đối mặt với chi phí đại diện lớn, tuy nhiên trách nhiệm phải cung cấp thông tin một cách thường xuyên có thể làm giảm sự bất đối xứng thông tin.