Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Thanh với đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" thuộc ngành Kinh tế quốc tế (mã số 9310106), được bảo vệ tại Trường Đại học Ngoại thương năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Thùy Vinh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đạt 8,46% năm 2007; dù suy giảm xuống 5,6% giai đoạn 2011–2013 do khủng hoảng tài chính toàn cầu, các năm 2015, 2019 và 2022 đã phục hồi lần lượt ở mức 6,68%, 7,02% và 8,02%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 400 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt gần 3.900 USD (WB, 2023). Cùng với đó, ngành du lịch ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân gần 10%/năm giai đoạn 2009–2019 (WTTC, 2019). Doanh thu du lịch trực tiếp năm 2018 đạt 20,6 tỷ USD (chiếm 8,5% GDP), dự báo đạt gần 40 tỷ USD vào năm 2028 và tạo việc làm cho khoảng 5 triệu lao động (chiếm 8% việc làm toàn nền kinh tế).
Tuy nhiên, việc tập trung vào quy mô tăng trưởng đã dẫn đến tình trạng phát triển quá nóng, gây quá tải hạ tầng, cạn kiệt tài nguyên nước và ô nhiễm rác thải rắn, rác thải nhựa tại các điểm đến. Theo Chỉ số Hoạt động Môi trường năm 2018 (EPI 2018), Việt Nam đạt 46,96/100 điểm (xếp thứ 132/180 quốc gia, giảm 16 bậc) và chỉ số ô nhiễm không khí ở mức 30,54/100 điểm (xếp thứ 161/180). Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 889/QĐ-TTg ngày 24/06/2020 về Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, cùng Quyết định 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt "Chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam năm 2020 tầm nhìn 2030" lấy tăng trưởng xanh làm trọng tâm, hoạt động du lịch xanh (DLX) tại Việt Nam vẫn phát triển manh mún, tự phát và thiếu đồng bộ.
Khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu mang tính mô tả chung, tiếp cận đơn lẻ từ phía cầu hoặc phía cung mà chưa tích hợp khung phân tích thị trường cung – cầu hoàn chỉnh, đồng thời chưa lượng hóa đầy đủ vai trò điều tiết của cơ chế chính sách trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là xác định các yếu tố tác động tới sự phát triển DLX tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy loại hình du lịch này. Để thực hiện mục tiêu chung, luận án triển khai 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển DLX và xác định các yếu tố ảnh hưởng dựa trên tiếp cận thị trường thông qua mô hình cung – cầu (phía cầu: nhu cầu du khách; phía cung: đơn vị lữ hành, khách sạn xanh, điểm đến xanh; cơ chế chính sách).
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển DLX.
- Phân tích thực trạng phát triển DLX và các yếu tố ảnh hưởng tại Việt Nam thông qua phương pháp định tính và định lượng.
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển DLX tại Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng tới phát triển DLX khi xem xét từ phía cầu, phía cung và cơ chế chính sách?
- Có những kinh nghiệm gì trên thế giới về phát triển DLX?
- Phát triển DLX tại Việt Nam đang có những thành công và hạn chế gì? Các yếu tố từ phía cầu, phía cung và cơ chế chính sách ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển DLX tại Việt Nam?
- Những giải pháp nào có thể thúc đẩy phát triển DLX tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận theo mô hình cung – cầu thị trường (hành vi lựa chọn của khách du lịch; hoạt động cung ứng dịch vụ lữ hành, khách sạn xanh, điểm đến xanh; cơ chế chính sách thúc đẩy).
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp đánh giá thực trạng giai đoạn 2009–2019 và dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh ba nhóm chủ đề chính:
Mối quan hệ giữa du lịch xanh và phát triển bền vững
- Khía cạnh môi trường: Gülez (1994), Kearney (1994), Values và cộng sự (2010), Font và cộng sự (2001) định nghĩa DLX là loại hình du lịch thay thế nhằm thay đổi nhận thức, giảm thiểu tác động tiêu cực và bảo tồn hệ sinh thái. Henderson và cộng sự (2001) phân tích mô hình phát triển dựa vào không gian xanh tại Singapore; Bixia và Zhen Mian (2013) nghiên cứu DLX nông thôn tại Nhật Bản; UNWTO (2012) nhấn mạnh tiềm năng giảm thiểu tài nguyên tiêu thụ và bảo vệ đa dạng sinh học.
- Khía cạnh kinh tế: Hrvoje Carić (2021) khẳng định DLX tạo dấu vết sinh thái nhỏ hơn và gia tăng lợi ích địa phương. Volkswirt Christoph Vietze (2017) và UNWTO (2012) chỉ ra rằng một việc làm cốt lõi trong ngành du lịch tạo ra 1,5 việc làm gián tiếp liên quan.
- Khía cạnh xã hội: Rini Andari và Setiyorini (2017) nghiên cứu điểm đến Bandung (Indonesia); Pomering và cộng sự (2011) khẳng định phát triển du lịch phải gắn liền với bảo tồn bản sắc văn hóa và tôn trọng tài nguyên nhân văn địa phương.
Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch xanh
- Từ phía cầu (Hành vi du khách): Sonny Sung Hwan Chun (2015) khảo sát nhận thức tại Daegu và Busan (Hàn Quốc); Sue Bergin-Seers và Judith Mair thực hiện 166 phỏng vấn tại Victoria (Úc); Cheng và cộng sự (2018), Hunecke và cộng sự (2001) phân chia yếu tố bên trong (thái độ, nhận thức, động lực) và bên ngoài (sản phẩm, dịch vụ điểm đến); Dimanche và Havitz (1995) đưa ra 4 yếu tố hành vi (quan tâm cá nhân, lòng trung thành, lựa chọn gia đình, tính mới lạ). Các tác giả Braun và cộng sự (1999), L. Amusan (2017), Ibnou-Laaroussi, Rjoub và Wong (2020), Sukawati và cộng sự chứng minh nhận thức biến đổi khí hậu tác động thuận chiều tới quyết định chọn điểm đến xanh. Kostakis và Sardianou (2012), Chen và Peng (2012) khẳng định nhận thức đúng đắn khiến du khách sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho khách sạn xanh.
- Từ phía cung (Chương trình du lịch, điểm đến, cơ sở lưu trú): Borysova và cộng sự (2021), Ma, He và Gu (2021), Meler và Ham (2012), Chun (2006) phân tích tác động của nguồn nhân lực, marketing và chuỗi cung ứng xanh. Patterson và McDonald (2004, 2014) khảo sát tác động tài nguyên tại New Zealand; Shwn-Meei Lee và cộng sự (2012), Untaru và cộng sự xem xét năng lượng và tài chính bảo tồn. Mehdi Azam và Tapan Sarker, E. Kaiwa nhấn mạnh vai trò đầu tư xanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Hassan và Nezakati (2014), Han và cộng sự (2010), Manganari và cộng sự (2016), Balaji và cộng sự (2019), Budiasa và cộng sự (2019), Pham, Tučková và Chiappetta Jabbour (2019), Ilina và cộng sự, Kim và cộng sự (2017), Hồ Lê Thu Trang và cộng sự (2019) phân tích các quy trình thực hành xanh trong khách sạn. Nunzio Casalino (2019) thực hiện khảo sát 140 cán bộ quản lý dự án DLX tại Ý, Hungary và Bulgaria.
- Từ cơ chế chính sách: Hoàng Hồng Hạnh và Nguyễn Thu Hà (2020), Huỳnh Thanh Hiếu (2015) nghiên cứu chính sách hạ tầng và nhân lực tại Đồng bằng sông Cửu Long; Nguyễn Hoàng Mai chỉ ra hạn chế quản lý sức chứa tại Cát Bà; Minh Ngọc (2012) cảnh báo tình trạng bãi biển nhân tạo làm biến dạng DLX tại Hạ Long; Kumar và Kusakabe (2012) nghiên cứu chính sách quản lý nhà vườn di sản tại Huế.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án khắc phục hạn chế tiếp cận đơn tuyến của các nghiên cứu trước bằng cách: (1) Thiết lập mô hình phân tích đa chiều tích hợp đồng thời cung, cầu và chính sách điều tiết; (2) Kết hợp phân tích định lượng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) đối với hành vi du khách và điều tra thực chứng đối với đơn vị cung ứng và cơ quan quản lý tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Lý thuyết hành vi: Luận án sử dụng Thuyết hành động hợp lý (TRA - Ajzen & Fishbein, 1975, 1991) và Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen, 1991; Chen & Yang, 2019; Han, Hsu & Sheu, 2010) để giải thích cấu trúc tác động từ nhận thức biến đổi khí hậu, nhận thức DLX, thái độ bảo vệ môi trường, nhu cầu dịch vụ tới ý định và quyết định lựa chọn DLX.
- Tiếp cận Cung – Cầu: Phân tích sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu du lịch xanh dưới tác động của công nghệ, nguồn lực, chi phí đầu tư và chính sách hỗ trợ/chế tài của Nhà nước.
- Khái niệm và đặc điểm DLX: Tổng hợp từ Bộ Nông nghiệp Hàn Quốc (Hong, Kim & Kim, 2003), Hiệp hội Du lịch xanh Đài Loan, Joppe và cộng sự (1998), Dodds và cộng sự (2001) với 4 đặc trưng cốt lõi: Trách nhiệm với môi trường; Đảm bảo sức sống kinh tế địa phương; Giữ gìn bản sắc văn hóa; Cung cấp trải nghiệm thực tế.
- Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng DLX: Áp dụng Bộ tiêu chuẩn Khách sạn xanh ASEAN và Bộ tiêu chí Thành phố Du lịch sạch ASEAN (ACTCS, 2016) gồm các nhóm chỉ tiêu: Quản lý môi trường, Quy hoạch đô thị, Quản lý chất thải, Vệ sinh sạch sẽ, An toàn - an ninh và sức khỏe đô thị, Không gian xanh, Cơ sở hạ tầng và tiện nghi du lịch.
| Nhóm tiêu chí ACTCS (2016) |
Nội dung đánh giá trọng tâm |
| Quản lý môi trường |
Quy hoạch đất đai, kiểm soát chất lượng nguồn nước sạch và không khí đô thị. |
| Quản lý chất thải |
Quy trình thu gom, lưu trữ, xử lý và tái chế chất thải rắn, chất thải lỏng. |
| Vệ sinh sạch sẽ |
Mức độ vệ sinh nhà vệ sinh công cộng, điểm tham quan và các trục đường chính. |
| Quy hoạch & Tiện nghi |
Mạng lưới giao thông, trung tâm thông tin, biển báo, bản đồ du lịch, khu bán lẻ và khu vui chơi. |
| An toàn, An ninh & Sức khỏe |
Trật tự công cộng, cảnh sát du lịch, mạng lưới y tế và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. |
| Không gian xanh |
Tỷ lệ diện tích công viên, cây xanh đô thị và quy trình chăm sóc bảo trì hệ sinh thái. |
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:
- Quy mô mẫu điều tra (Tổng cộng 421 phiếu):
- Phía cầu (315 phiếu): Khảo sát du khách nội địa đã từng sử dụng dịch vụ tại các điểm đến xanh, khách sạn xanh tại Việt Nam; dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và AMOS (kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, mô hình phương trình cấu trúc SEM và ước lượng Bootstrap).
- Phía cung (56 phiếu): Khảo sát nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú/điểm đến xanh; phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả.
- Phía cơ chế chính sách (41 phiếu): Điều tra kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc lãnh đạo các Sở Du lịch, cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và chuyên gia nghiên cứu phát triển DLX.
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập giai đoạn 2009–2019 từ Báo cáo của Tổng cục Du lịch Việt Nam (VNAT), Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), Ngân hàng Thế giới (WB), Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), và Báo cáo Chỉ số Hoạt động Môi trường (EPI).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của DLX tới ba trụ cột phát triển bền vững (môi trường, kinh tế, xã hội), đồng thời phân loại các yếu tố tác động theo góc độ cung, cầu và chính sách. Tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu vắng mô hình đánh giá tích hợp cung – cầu trên thị trường du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi xanh.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch xanh
Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa, đặc trưng của DLX, đồng thời xác lập các tiêu chí đánh giá quy mô (số lượng điểm đến, cơ sở lưu trú, doanh nghiệp lữ hành, lượng khách) và chất lượng DLX dựa trên Bộ tiêu chuẩn Du lịch sạch và Khách sạn xanh ASEAN (2016). Chương này cũng phân tích kinh nghiệm phát triển DLX tại 4 quốc gia: Thái Lan (chiến lược của TAT), Nhật Bản (du lịch nông nghiệp nông thôn), Slovenia (mô hình phát triển điểm đến xanh quốc gia của BTB) và New Zealand (bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của NTB).
Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch xanh tại Việt Nam
Chương 3 phân tích bức tranh ngành du lịch giai đoạn 2009–2019 và thực trạng DLX Việt Nam:
- Thành tựu và hạn chế chung: Du lịch tăng trưởng nhanh nhưng tạo sức ép lớn lên môi trường tự nhiên, hạ tầng xử lý rác và nước thải tại các trung tâm du lịch bị quá tải.
- Thực trạng cung – cầu: Phía cầu ghi nhận sự gia tăng số lượng khách tham quan các điểm đến xanh giai đoạn 2015–2019; phía cung xuất hiện các chương trình tour xanh, điểm đến xanh và khách sạn đạt chứng nhận ASEAN nhưng quy mô còn nhỏ lẻ.
- Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập thúc đẩy hoàn thiện khung khổ chính sách, tạo áp lực chuyển đổi theo các chuẩn mực môi trường quốc tế, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư xanh và tiếp cận công nghệ xử lý chất thải hiện đại.
| Giai đoạn / Năm |
Chỉ tiêu kinh tế - du lịch Việt Nam |
Dữ liệu ghi nhận |
| 2007 |
Tốc độ tăng trưởng GDP |
8,46% |
| 2011–2013 |
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân |
5,6% |
| 2018 |
Đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP |
20,6 tỷ USD (8,5% GDP) |
| 2018 |
Chỉ số Hoạt động Môi trường (EPI) |
46,96/100 (Hạng 132/180) |
| 2018 |
Chỉ số chất lượng không khí |
30,54/100 (Hạng 161/180) |
| 2009–2019 |
Tốc độ tăng trưởng ngành du lịch bình quân |
~10%/năm |
| 2022 |
Tốc độ tăng trưởng GDP nền kinh tế |
8,02% |
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 thiết lập quy trình nghiên cứu 7 bước, xây dựng hệ thống thang đo Likert 5 mức độ và thiết kế bảng hỏi cho 3 nhóm đối tượng. Tác giả trình bày chi tiết phương pháp phân tích định lượng SEM trên AMOS (kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích EFA, CFA, tính phân biệt, độ phù hợp mô hình và Bootstrap) để lượng hóa các yếu tố phía cầu, cùng quy trình phân tích thống kê mô tả phía cung và phỏng vấn sâu bán cấu trúc phía chính sách.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch xanh
Chương này trình bày kết quả phân tích thực nghiệm từ nguồn dữ liệu điều tra:
- Phân tích định lượng phía cầu (315 mẫu): Kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) và phân tích nhân tố EFA/CFA xác nhận mô hình đạt độ phù hợp cao với dữ liệu nghiên cứu (các chỉ số CMIN/DF, GFI, TLI, CFI, RMSEA đạt yêu cầu). Mô hình SEM khẳng định: Nhận thức biến đổi khí hậu, nhận thức DLX và thái độ bảo vệ môi trường có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới ý định tham gia DLX và nhu cầu dịch vụ DLX, từ đó tác động trực tiếp tới quyết định lựa chọn DLX của du khách. Ước lượng Bootstrap xác nhận tính ổn định của mô hình.
- Phân tích thực trạng phía cung (56 mẫu): Thống kê mô tả chỉ ra các yếu tố trọng yếu ảnh hưởng tới việc phát triển chương trình tour xanh bao gồm: chất lượng nguồn nhân lực xanh, chiến lược marketing xanh, chuỗi cung ứng dịch vụ xanh và nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn). Đối với khách sạn xanh, nhận thức của ban lãnh đạo, quy trình vận hành tiết kiệm năng lượng/nước và xử lý rác thải là các rào cản - động lực chính.
- Phân tích yếu tố cơ chế chính sách (41 mẫu): Phỏng vấn sâu cho thấy các nhóm chính sách mang tính khuyến khích (ưu đãi vốn, hỗ trợ đào tạo nhân lực, xúc tiến quảng bá) và nhóm chính sách quy định/chế tài (quy chuẩn kỹ thuật môi trường, kiểm tra giám sát, xử phạt vi phạm) đóng vai trò định hướng quyết định đến hành vi cung ứng của doanh nghiệp.
Chương 6: Đề xuất giải pháp phát triển du lịch xanh tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Dựa trên xu hướng thế giới và kết quả phân tích thực chứng, chương này đưa ra 2 nhóm giải pháp lớn:
- Nhóm giải pháp đối với Chính phủ và cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện quy hoạch du lịch gắn với bảo vệ môi trường; ban hành bộ tiêu chí quốc gia về điểm đến xanh và khách sạn xanh tương thích chuẩn ASEAN; thiết lập cơ chế ưu đãi tài chính, thuế cho các dự án đầu tư công nghệ sạch; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực xanh; hoàn thiện chế tài giám sát xả thải.
- Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp lữ hành và khách sạn: Xây dựng chuỗi cung ứng xanh khép kín; nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho đội ngũ hướng dẫn viên; áp dụng các biện pháp quản lý năng lượng, giảm thiểu rác thải nhựa và tăng cường sử dụng sản phẩm bản địa thân thiện với môi trường trong cơ sở lưu trú.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án xây dựng khung phân tích lý thuyết toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển DLX dựa trên mô hình tương tác Cung – Cầu thị trường, trong đó đặt cơ chế chính sách làm nhân tố điều tiết trung tâm tác động đồng thời lên cả hai phía cung và cầu.
- Vận dụng và mở rộng thành công Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) trong việc giải thích cấu trúc ra quyết định tiêu dùng sản phẩm DLX của khách du lịch tại một quốc gia đang phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm có giá trị về thực trạng phát triển DLX tại Việt Nam, chỉ rõ các rào cản vận hành của doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và điểm đến xanh theo các tiêu chí chuẩn hóa của ASEAN.
- Đưa ra hệ thống khuyến nghị và giải pháp có cơ sở khoa học giúp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch và UBND các địa phương hoạch định chiến lược phát triển du lịch bền vững đến năm 2030.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu trong công tác đào tạo chuyên ngành Quản trị Du lịch, Quản lý Môi trường và Kinh tế quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Về đối tượng khảo sát phía cầu: Mô hình định lượng SEM mới chỉ thực hiện khảo sát trên đối tượng khách du lịch nội địa (315 mẫu), chưa thu thập được mẫu đại diện cho khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.
- Về phương pháp phân tích phía cung: Do quy mô mẫu phía cung (56 doanh nghiệp) và phía chính sách (41 chuyên gia/cán bộ) còn hạn chế, luận án mới dừng lại ở phân tích thống kê mô tả và phỏng vấn sâu chất lượng mà chưa kiểm định mô hình định lượng đa biến đồng thời cho phía cung.
- Về chuỗi dữ liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng ngành du lịch tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2009–2019 trước đại dịch Covid-19, trong khi giai đoạn 2020–2022 chịu sự đứt gãy lớn do các biện pháp kiểm soát dịch bệnh.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng sang nhóm đối tượng khách du lịch quốc tế theo từng thị trường nguồn trọng điểm (Đông Bắc Á, Châu Âu, Bắc Mỹ) để so sánh sự khác biệt trong hành vi tiêu dùng xanh.
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú trên toàn quốc để xây dựng mô hình hồi quy lượng hóa các yếu tố cản trở phía cung.
- Nghiên cứu sâu hơn tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) đến việc chuyển giao công nghệ xanh và chuyển dịch lao động xanh trong ngành du lịch Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tham khảo phương pháp xây dựng khung lý thuyết kết hợp Cung – Cầu, quy trình kiểm định mô hình SEM bằng AMOS trong nghiên cứu hành vi du lịch (Chương 4, Chương 5), cũng như hệ thống hóa các định nghĩa và tiêu chuẩn xanh ASEAN (Chương 2).
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ VHTTDL, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh/thành): Tham khảo các phát hiện thực nghiệm về điểm nghẽn chính sách và bộ giải pháp quản lý nhà nước, quy hoạch điểm đến xanh (Chương 3, Chương 6).
- Nhà quản trị doanh nghiệp lữ hành và khách sạn: Ứng dụng các chỉ tiêu đánh giá khách sạn xanh ASEAN (về quản lý năng lượng, nước, chất thải, không gian xanh) và giải pháp xây dựng tour xanh nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh phục hồi du lịch (Chương 2, Chương 6).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận nghiên cứu phát triển du lịch xanh theo khung phân tích nào?
Luận án tiếp cận sự phát triển DLX dựa trên mô hình kinh tế thị trường Cung – Cầu, xem xét đồng thời 3 nhóm nhân tố: Phía cầu (nhận thức, thái độ, nhu cầu và quyết định của du khách), Phía cung (năng lực tổ chức tour của doanh nghiệp lữ hành, điểm đến xanh, khách sạn xanh) và Cơ chế chính sách quản lý nhà nước (vai trò điều tiết, khuyến khích và chế tài).
2. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những nhóm đối tượng nào và bằng phương pháp gì?
Dữ liệu sơ cấp gồm 421 mẫu điều tra năm 2022, phân bổ cho 3 nhóm đối tượng: (1) 315 khách du lịch nội địa (phân tích định lượng SEM trên SPSS/AMOS); (2) 56 nhà quản lý doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú (phân tích thống kê mô tả); (3) 41 lãnh đạo Sở Du lịch địa phương và chuyên gia (phỏng vấn sâu bán cấu trúc).
3. Luận án sử dụng bộ tiêu chuẩn nào để đánh giá chất lượng du lịch xanh tại Việt Nam?
Luận án lựa chọn Bộ tiêu chuẩn Khách sạn xanh ASEAN và Bộ tiêu chí Thành phố Du lịch sạch ASEAN (ACTCS 2016) gồm 6 nhóm chỉ tiêu chính (quản lý môi trường, quản lý chất thải, vệ sinh, quy hoạch đô thị, an toàn - an ninh - sức khỏe, không gian xanh) làm thước đo chuẩn mực đánh giá chất lượng thực hành xanh.
4. Kết quả nghiên cứu định lượng phía cầu rút ra những phát hiện chính nào?
Kết quả kiểm định SEM khẳng định nhận thức về biến đổi khí hậu, nhận thức về DLX và thái độ bảo vệ môi trường có ảnh hưởng thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới ý định tham gia và nhu cầu dịch vụ DLX, qua đó quyết định hành vi lựa chọn sản phẩm du lịch xanh của khách du lịch.
5. Những quốc gia nào được luận án phân tích kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch xanh?
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ 4 quốc gia đại diện cho các mô hình phát triển xanh đặc thù: Thái Lan (quản lý điểm đến của TAT), Nhật Bản (du lịch nông thôn, sinh thái), Slovenia (chứng nhận điểm đến xanh quốc gia của BTB) và New Zealand (bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và quản lý tác động môi trường của NTB).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đình Thanh đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về du lịch xanh tại Việt Nam thông qua việc thiết lập khung phân tích cung – cầu tích hợp với vai trò điều tiết của chính sách. Bằng phương pháp kết hợp định lượng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trên 315 mẫu du khách và nghiên cứu định tính trên 97 nhà quản lý cùng chuyên gia, công trình đã xác lập các bằng chứng thực nghiệm về cơ chế hình thành quyết định tiêu dùng xanh và những rào cản phía cung ứng dịch vụ. Các phát hiện và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.