Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây muồng (tên khoa học: Cassia tora L., trong y học cổ truyền gọi là thảo quyết minh) là loài thực vật mọc hoang phổ biến tại nhiều địa phương ở Việt Nam, đặc biệt tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc như Bắc Kạn, Cao Bằng, Sơn La. Hạt muồng chứa các hợp chất anthraquinon cùng nhiều thành phần dinh dưỡng có lợi cho hệ tiêu hóa, kháng khuẩn, điều hòa huyết áp và hỗ trợ an thần. Trong thực tế, nông dân và người tiêu dùng thường thu hái hạt muồng để sao sắc uống hoặc làm thuốc chữa bệnh theo phương pháp dân gian.
Tuy nhiên, việc chế biến hạt muồng tại Việt Nam chủ yếu mang tính thủ công, nhỏ lẻ ở quy mô gia đình. Các dạng sản phẩm thương mại tiện dụng, đặc biệt là chè túi lọc từ hạt muồng kết hợp với các dược liệu bổ trợ, hầu như chưa được nghiên cứu bài bản và chuẩn hóa quy trình công nghệ nhằm bảo toàn tối đa các hoạt chất sinh học (như anthraquinon, tanin) cũng như bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình sản xuất chè túi lọc từ hạt muồng" được thực hiện.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là xác định các thông số kỹ thuật tối ưu nhằm xây dựng quy trình công nghệ sản xuất chè túi lọc từ hạt muồng đạt chất lượng dinh dưỡng và cảm quan tốt. Để đạt mục tiêu này, năm nhiệm vụ cụ thể được đặt ra:
- Xác định nhiệt độ sấy ảnh hưởng đến thời gian và chất lượng của nguyên liệu hạt muồng.
- Xác định kích thước nghiền của nguyên liệu ảnh hưởng đến khả năng hòa tan và trích ly của sản phẩm.
- Lựa chọn tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu phụ (cam thảo, hoa hòe) ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan của sản phẩm.
- Lựa chọn loại bao bì phù hợp để bảo quản sản phẩm chè túi lọc hạt muồng.
- Xây dựng và hoàn thiện quy trình công nghệ hoàn chỉnh cho sản xuất chè túi lọc từ hạt muồng.
Đối tượng nghiên cứu chính là hạt muồng thu mua tại tỉnh Bắc Kạn có độ ẩm ban đầu không quá 12%, kết hợp với hai nguyên liệu phụ là hoa hòe (Sophora japonica L.) và cam thảo (Glycyrrhiza uralensis Fisch L.) mua tại hiệu thuốc bắc ở Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở quy mô thực nghiệm phòng thí nghiệm, được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ Sinh học & Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 05 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên cơ sở lý luận về đặc tính thực vật học, dược lý học và hóa sinh học của hạt muồng cùng các phụ liệu bổ trợ:
- Cây muồng thuộc phân lớp Rosidae, bộ Fabales, họ Đậu. Thành phần hạt muồng chứa protein (5,5 - 5,7%, chủ yếu là albumin), lipid (0,34% gồm acid oleic, linoleic), tanin (1,11% ở nguyên liệu tươi, gồm glucogalin, rheumtannic acid, catechin...), glycosid (2,6%), vitamin A và 14 nguyên tố vô cơ (Mg, Ca, Na > 3%; P > 1%; Fe 0,07%; Mn 0,02%; Si, Ti 0,01%; Cu, Zn, Al 0,005%; Mo 0,002%; Ni, Ag 0,0001%). Hợp chất anthraquinon (chiếm khoảng 1,58%) là nhóm hoạt chất chủ đạo thuộc nhóm nhuận tẩy (oxymethyl-anthraquinon), gồm các dẫn chất như chrysophanol, physcion, rheum emodin, aloe emodin, rhein.
- Hoa hòe bổ sung rutin (chiếm khoảng 28% trong nụ hoa), betulin, sophoradiol có tác dụng bền thành mạch và hạ mỡ máu. Cam thảo chứa glycyrrhizin, liquiritin, flavonoid giúp điều vị ngọt, giảm tính đắng chát và giải độc.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các bước phân tích tiêu chuẩn:
- Phương pháp xác định độ ẩm: Sấy bay hơi ẩm ở nhiệt độ 100 - 105°C trong tủ sấy đến khi mẫu đạt khối lượng không đổi, tính theo hiệu số cân trước và sau sấy.
- Phương pháp xác định protein tổng số: Phương pháp Kjeldahl, vô cơ hóa mẫu bằng H2SO4 đậm đặc với hỗn hợp xúc tác CuSO4:K2SO4 (tỷ lệ 1:9), giải phóng NH3 bằng NaOH 50%, chưng cất hơi nước lôi cuốn NH3 vào dung dịch H2SO4 0,1N và chuẩn độ lượng acid dư bằng dung dịch NaOH 0,1N; hàm lượng protit tính qua nitơ tổng số nhân với hệ số chuyển đổi 6,25.
- Phương pháp xác định lipid: Chiết kiệt chất béo tự do bằng dung môi ete nóng trên hệ thống thiết bị Soxhlet, sấy cắn chiết đến khối lượng không đổi.
- Phương pháp xác định anthraquinon: Định tính bằng phản ứng Borntraeger, thủy phân bột mẫu bằng H2SO4 25%, lắc chiết với dung môi hữu cơ, tách lớp và cho phản ứng với kiềm NaOH 10% tạo phenolat có màu đỏ đặc trưng.
- Phương pháp xác định tanin: Chuẩn độ oxy hóa khử bằng dung dịch KMnO4 0,1N với chỉ thị indigocarmin trước và sau khi hấp phụ tanin bằng than hoạt tính ở 40 - 50°C.
- Phương pháp xác định hàm lượng chất khô hòa tan (CKHT): Đo bằng chiết quang kế (đơn vị °Bx) sau khi hãm dịch chè trong nước sôi 100°C.
- Phương pháp đánh giá cảm quan: Sử dụng Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3215-79, đánh giá theo hệ thống cho điểm 20 bậc gồm 6 mức chất lượng (0 - 5 điểm) bởi hội đồng 7 - 9 người. Các chỉ tiêu gồm trạng thái (hệ số trọng lượng 1,0), màu sắc (hệ số 0,6), mùi (hệ số 1,2), vị (hệ số 1,2).
- Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0, các thí nghiệm được lặp lại 3 lần và so sánh sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất p = 0,05.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu đồ uống thảo dược bảo vệ sức khỏe, tiềm năng nguồn dược liệu hạt muồng mọc hoang tại các tỉnh miền núi phía Bắc và thực trạng thiếu vắng sản phẩm chè túi lọc công nghiệp chuẩn hóa. Tác giả xác định rõ mục đích, 5 nhiệm vụ cụ thể, ý nghĩa khoa học (làm sáng tỏ các biến đổi hóa lý, dinh dưỡng dưới tác động của nhiệt độ, kích thước hạt và tỷ lệ phối chế) và ý nghĩa thực tiễn (đa dạng hóa sản phẩm, tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên).
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các tư liệu khoa học về cây muồng (Cassia tora L.) từ đặc điểm hình thái học, phân bố sinh thái học đến thành phần hóa sinh. Phần tổng quan đi sâu vào cấu trúc hóa học, tính chất vật lý, hóa học, dược lý và các phương pháp phân tích anthraquinon (phương pháp cân của Daels và Kroeber, phương pháp so màu Auterhoff, phương pháp thể tích Tschirch và Schmitz). Tác giả tổng hợp tác dụng điều trị táo bón, sỏi thận, hạ cholesterol (làm tăng HDL-C từ 26,84% đến 38,46%, giảm LDL-C từ 69,25% đến 76,12%, giảm cholesterol toàn phần tới 71,25%), hạ huyết áp, lợi tiểu và kháng khuẩn của hạt muồng. Chương cũng khảo sát các sản phẩm thương mại hiện có (trà giảm béo Slimutea của Học viện Quân y, Quyết minh trà, viên an thần Trasleepy của Traphaco) và cơ sở khoa học của việc phối trộn hoa hòe, cam thảo; đồng thời đánh giá tình hình nghiên cứu hạt muồng ở Ấn Độ, Đức và các công trình trong nước (Phó Đức Thuần, Vũ Ngọc Lộ, Hoàng Thị Thu).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng hạt muồng (Bắc Kạn, độ ẩm <= 12%), nguyên liệu phối hợp (hoa hòe, cam thảo), danh mục thiết bị (bể ổn nhiệt, chiết quang kế, tủ sấy, máy cất đạm Kjeldahl, bộ chiết Soxhlet) và hóa chất phân tích. Chương này thiết lập sơ đồ quy trình công nghệ dự kiến (Nguyên liệu -> Làm sạch -> Sấy khô -> Xay nhỏ -> Phối trộn -> Đóng gói -> Thành phẩm) và mô tả 4 thí nghiệm bố trí đơn yếu tố:
- Thí nghiệm 1: Nhiệt độ sấy ở 60, 70, 80, 90°C đến độ ẩm an toàn 5%.
- Thí nghiệm 2: Kích thước nghiền ở các dải 0,2 - 0,5 mm; 0,5 - 1,0 mm; 1,0 - 1,5 mm; 1,5 - 2,0 mm.
- Thí nghiệm 3: Tỷ lệ phối trộn Hạt muồng / Cam thảo / Hoa hòe ở 5 công thức (9/1/1, 8/1/1, 7/1/1, 6/1/1, 5/1/1).
- Thí nghiệm 4: Đóng gói túi lọc kép hai ngăn (2 g/gói) và bảo quản trong 3 loại bao bì (PE, PP, màng tráng thiếc) theo dõi trong 30 ngày. Quy trình thao tác phân tích ẩm, protein, lipid, anthraquinon, tanin, CKHT và quy cách đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 cũng được định lượng hóa chi tiết.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương thực nghiệm cung cấp toàn bộ kết quả phân tích định lượng và đánh giá cảm quan qua 4 nội dung khảo sát:
- Nghiên cứu nhiệt độ sấy: Nhiệt độ tăng rút ngắn thời gian sấy nhưng làm suy giảm dinh dưỡng. Ở 90°C, thời gian sấy là 180 phút nhưng protein giảm mạnh còn 2,1%, lipid còn 0,12%, tanin còn 0,60% và anthraquinon giảm phản ứng màu. Ở 70°C, thời gian sấy là 270 phút, giữ được protein 4,5%, lipid 0,22%, tanin 0,82%, anthraquinon ở mức (++), đạt điểm cảm quan trung bình có trọng lượng cao nhất (15,70 điểm - xếp loại Khá).
- Nghiên cứu kích thước nghiền: Hạt nghiền 0,2 - 0,5 mm cho hàm lượng trích ly cao nhất (CKHT đạt 1,48 °Bx, tanin 0,70%) nhưng bột mịn lọt qua màng túi lọc làm tăng chất nhầy, nước chè đục, điểm cảm quan chỉ đạt 15,22 điểm. Kích thước 0,5 - 1,0 mm trích ly tốt (CKHT 1,46 °Bx, tanin 0,69%), dịch trong màu vàng chanh, vị đắng dịu hậu ngọt, đạt điểm cảm quan 15,48 điểm (loại Khá). Kích thước lớn hơn (1,0 - 2,0 mm) làm giảm mạnh khả năng hòa tan chất tan.
- Nghiên cứu tỷ lệ phối trộn phụ liệu: Công thức 7/1/1 (hạt muồng 7 : cam thảo 1 : hoa hòe 1) đạt điểm cảm quan cao nhất (17,44 điểm - loại Khá), trong đó điểm thành phần màu sắc đạt 4,4; mùi đạt 4,5; vị đạt 4,5 và trạng thái đạt 4,0. Tỷ lệ hạt muồng quá cao (9/1/1) gây lệch vị, còn quá thấp (5/1/1) khiến nước chè có vị đắng chát rõ rệt.
- Nghiên cứu bao bì bảo quản: Sau 30 ngày bảo quản, bao bì tráng thiếc duy trì độ ẩm thấp nhất (5,6%), bảo tồn protein (4,40%), lipid (0,19%), tanin (0,78%) và giữ anthraquinon (+), đạt điểm cảm quan 15,98 điểm (loại Khá). Bao bì PE và PP làm độ ẩm tăng lên tương ứng 6,0% và 5,9%, khiến sản phẩm xuất hiện mùi ôi mốc nhẹ, dịch đục phân lớp, xếp loại chất lượng Trung bình.
| Thông số công nghệ | Mức tối ưu được chọn | Kết quả chất lượng ghi nhận |
|---|---|---|
| Nhiệt độ sấy | 70°C (thời gian 270 phút) | Ẩm 5%, Protein 4,5%, Lipid 0,22%, Tanin 0,82%, Anthraquinon (++), Cảm quan 15,70 điểm |
| Kích thước nghiền | 0,5 - 1,0 mm | CKHT 1,46 °Bx, Tanin 0,69%, Cảm quan 15,48 điểm, nước chè vàng chanh, không bị lọt bột |
| Tỷ lệ phối trộn | Hạt muồng/Cam thảo/Hoa hòe = 7/1/1 | Điểm cảm quan 17,44 điểm (Màu: 4,4; Mùi: 4,5; Vị: 4,5; Trạng thái: 4,0) |
| Bao bì bảo quản | Màng tráng thiếc (30 ngày) | Ẩm 5,6%, Protein 4,40%, Lipid 0,19%, Tanin 0,78%, Cảm quan 15,98 điểm |
Từ các thông số thực nghiệm, tác giả tổng hợp thành quy trình công nghệ chế biến hoàn chỉnh từ tiếp nhận nguyên liệu hạt muồng Bắc Kạn sạch tạp chất, sấy ở 70°C trong 270 phút đến ẩm 5%, nghiền qua sàng phân loại 0,5 - 1,0 mm, phối trộn theo tỷ lệ khối lượng 7/1/1 với cam thảo và hoa hòe đã sấy nghiền, đóng gói 2 g/túi lọc kép hai ngăn và bảo quản bằng bao bì tráng thiếc (30 gói/túi).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chính xác về quy trình chế biến chè túi lọc hạt muồng:
- Xác lập chế độ sấy nguyên liệu tối ưu tại 70°C trong 270 phút, kiểm soát độ ẩm đạt 5,0%, hạn chế tối đa tổn thất protein (đạt 4,5% so với mức 5,1% ở 60°C nhưng rút ngắn được 30 phút sấy) và duy trì hoạt tính anthraquinon ở mức cao (++).
- Xác định dải kích thước bột nghiền 0,5 - 1,0 mm giúp trích ly CKHT đạt 1,46 °Bx và tanin đạt 0,69% sau 2 phút hãm nước sôi 100°C mà không làm đục dịch chè do lọt hạt mịn qua màng lọc.
- Thiết lập công thức phối chế 7 phần hạt muồng : 1 phần cam thảo : 1 phần hoa hòe, đạt điểm đánh giá cảm quan theo TCVN 3215-79 là 17,44 điểm (xếp loại Khá).
- Khẳng định bao bì tráng thiếc vượt trội so với màng đơn PE và PP trong việc kiểm soát hút ẩm (độ ẩm sau 30 ngày chỉ tăng từ 5,0% lên 5,6%, trong khi PE tăng lên 6,0% và PP tăng lên 5,9%), giữ trọn vẹn điểm cảm quan (15,98 điểm) và hàm lượng dinh dưỡng.
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chè túi lọc từ hạt muồng ở quy mô phòng thí nghiệm, đưa ra các thông số cụ thể từ khâu xử lý nguyên liệu, sấy, nghiền, phối chế đến đóng gói túi lọc hai ngăn và bao bì ngoài.
Đóng góp của luận văn so với các nghiên cứu trước đây là đã chuyển giao dược liệu hạt muồng từ dạng đun sắc truyền thống hoặc phối hợp dạng viên nén (như Trasleepy, Slimutea) sang sản phẩm chè túi lọc thảo mộc tiện dụng; đồng thời xác lập cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa chế độ nhiệt - cơ học với sự biến đổi các hoạt chất sinh học (anthraquinon, tanin) của hạt muồng trong quá trình chế biến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi thực nghiệm đã nêu trong văn bản:
- Các thí nghiệm mới chỉ thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm với cỡ mẫu nhỏ (mẫu sấy 5 g, mẫu phối trộn 50 g, mẫu đóng gói 2 g/gói, lô bảo quản 30 gói/túi), chưa khảo sát trên dây chuyền sản xuất quy mô pilot hoặc công nghiệp.
- Chỉ tiêu anthraquinon mới dừng lại ở phương pháp định tính Borntraeger (thể hiện qua cường độ màu đỏ của phenolat: ++ hoặc +), chưa sử dụng phương pháp định lượng hiện đại (như sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC hoặc đo quang theo Auterhoff) để xác định nồng độ chính xác của từng dẫn chất (chrysophanol, emodin, aloe emodin, rhein).
- Thời gian khảo sát bao bì bảo quản chỉ dừng lại ở mốc 30 ngày trong điều kiện thường, chưa tiến hành thử nghiệm bảo quản gia tốc để xác định hạn sử dụng dài hạn của sản phẩm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:
- Mở rộng nghiên cứu quy trình ở quy mô pilot và sản xuất thử nghiệm công nghiệp.
- Ứng dụng phương pháp sắc ký để định lượng chi tiết hàm lượng từng hợp chất anthraquinon và rutin trong quá trình chế biến và bảo quản.
- Nghiên cứu kéo dài thời gian theo dõi chất lượng bảo quản (6 - 12 tháng) và đánh giá các chỉ tiêu vi sinh vật theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo trực tiếp cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sinh học và Quản lý chất lượng thực phẩm khi thực hiện các đồ án nghiên cứu phát triển sản phẩm chè thảo mộc, đồ án trích ly dược liệu hoặc quy trình công nghệ đóng gói thực phẩm.
- Các nhà nghiên cứu và kỹ thuật viên ngành chế biến nông sản - dược liệu: Phần thực nghiệm về nhiệt độ sấy, kích thước phân loại qua sàng và cơ chế phối trộn nguyên liệu phụ (cam thảo, hoa hòe) cung cấp thông số kỹ thuật hữu ích để ứng dụng cho các loại hạt dược liệu tương tự.
- Phần phương pháp phân tích (TCVN 3215-79, định lượng tanin bằng KMnO4, cất đạm Kjeldahl, chiết béo Soxhlet) được trình bày với đầy đủ nguyên tắc hóa sinh và công thức tính toán, có giá trị hướng dẫn thực hành phân tích kiểm nghiệm thực phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao tác giả không chọn nhiệt độ sấy 60°C hoặc 90°C mà lựa chọn 70°C?
Nhiệt độ 60°C bảo tồn dinh dưỡng tốt (protein 5,1%, lipid 0,25%) nhưng kéo dài thời gian sấy lên tới 300 phút và cho mùi ngái, điểm cảm quan chỉ đạt 13,46 điểm (loại Trung bình). Ngược lại, sấy ở 90°C rút ngắn thời gian còn 180 phút nhưng nhiệt độ cao làm phân hủy mạnh các chất dinh dưỡng (protein giảm còn 2,1%, lipid còn 0,12%, tanin còn 0,60%, anthraquinon giảm phản ứng màu) và điểm cảm quan thấp (12,80 điểm). Nhiệt độ 70°C là điểm cân bằng tối ưu: thời gian sấy 270 phút, giữ được protein 4,5%, lipid 0,22%, tanin 0,82%, anthraquinon (++) và đạt điểm cảm quan cao nhất (15,70 điểm - loại Khá).
Kích thước bột nghiền ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng cảm quan và khả năng trích ly của túi chè?
Kích thước quá nhỏ (0,2 - 0,5 mm) cho khả năng trích ly chất khô hòa tan (1,48 °Bx) và tanin (0,70%) cao nhất, nhưng bột mịn lọt qua mắt lưới túi lọc khiến dịch chè nhớt, nhiều chất nhầy và đục, làm điểm cảm quan giảm còn 15,22 điểm. Kích thước quá lớn (1,5 - 2,0 mm) hạn chế diện tích tiếp xúc, giảm độ hòa tan (CKHT chỉ đạt 1,16 °Bx, tanin 0,61%) làm nước chè nhạt, điểm cảm quan chỉ đạt 12,20 điểm. Dải kích thước 0,5 - 1,0 mm khắc phục được hiện tượng lọt bột, nước chè có màu vàng chanh, vị đắng dịu hậu ngọt, đạt chất lượng hòa tan cao (CKHT 1,46 °Bx, tanin 0,69%) và điểm cảm quan cao nhất (15,48 điểm).
Mục đích và tỷ lệ bổ sung hoa hòe và cam thảo vào chè hạt muồng là gì?
Hạt muồng nguyên chất có vị nhạt, hơi đắng và nhầy. Việc bổ sung hoa hòe (chứa rutin giúp hạ áp, bền mao mạch) và cam thảo (chứa glycyrrhizin tạo vị ngọt tự nhiên, tính bình giải độc) giúp cân bằng hương vị và gia tăng công năng dược tính. Tác giả cố định tỷ lệ cam thảo / hoa hòe là 1/1 và khảo sát tỷ lệ hạt muồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ 7/1/1 (7 hạt muồng : 1 cam thảo : 1 hoa hòe) cho hương vị hài hòa nhất, khử được vị đắng chát gắt, đạt điểm cảm quan 17,44 điểm (cao hơn các tỷ lệ 9/1/1 đạt 13,78 điểm hay 5/1/1 đạt 13,78 điểm).
Tại sao bao bì tráng thiếc lại cho hiệu quả bảo quản tốt hơn màng PE và PP?
Sau 30 ngày bảo quản, màng PE và PP có độ cản khí và cản ẩm kém hơn khiến độ ẩm sản phẩm tăng từ 5% lên lần lượt 6,0% và 5,9%, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, gây mùi ôi mốc nhẹ và làm đục nước chè (điểm cảm quan giảm còn 13,00 và 13,92 điểm). Bao bì màng tráng thiếc có tính năng ngăn cản ẩm và ánh sáng vượt trội, kiểm soát độ ẩm chỉ tăng lên 5,6%, hạn chế tổn thất dinh dưỡng (protein đạt 4,40%, lipid 0,19%, tanin 0,78%), giữ nguyên phản ứng màu anthraquinon (+) và duy trì hương vị đặc trưng với điểm cảm quan đạt 15,98 điểm (xếp loại Khá).
Độ ẩm ban đầu của nguyên liệu và độ ẩm của bán thành phẩm chè túi lọc được quy định là bao nhiêu?
Hạt muồng nguyên liệu thu mua tại tỉnh Bắc Kạn có độ ẩm yêu cầu ban đầu không quá 12%. Qua quá trình sấy khô tại 70°C trong 270 phút, độ ẩm được đưa về giới hạn an toàn là 5% trước khi chuyển sang công đoạn xay nghiền và phối chế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Nguyện đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu thực nghiệm về nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình sản xuất chè túi lọc từ hạt muồng. Công trình đã xác định chính xác các thông số kỹ thuật cốt lõi gồm nhiệt độ sấy 70°C (270 phút), kích thước nghiền 0,5 - 1,0 mm, tỷ lệ phối trộn hạt muồng/cam thảo/hoa hòe là 7/1/1 và bao bì bảo quản màng tráng thiếc. Các kết quả này cung cấp cơ sở khoa học và quy trình thực nghiệm hoàn chỉnh để chế biến dạng đồ uống túi lọc giàu hoạt chất sinh học từ nguồn dược liệu hạt muồng sẵn có tại Việt Nam.