Mở đầu. Chương này tác giả giới thiệu một cách tổng quát về nguyên nhân chọn đề tài cùng mục tiêu đề ra, các câu hỏi làm sáng tỏ đề tài, phương pháp được sử dụng và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương này tác giả tổng hợp sơ sở lý thuyết, các đặc trương, vai trò của dịch vụ, ý định sử dụng, các nghiên cứu liên quan, xây dựng giả thuyết và đưa ra mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này được trình bày chủ yếu về cách thức lấy mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả sẽ trình bày tổng quát về đơn vị nghiên cứu, phân tích dữ liệu dựa trên các tiêu chí đánh giá, kiểm định mô hình nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này tác giả sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và đề xuất các hàm ý chính sách. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng được nghiên cứu và phát triển bởi nhiều khái niệm cả trong và ngoài nước, nhưng nhìn chung được hiểu là: “Dịch vụ ngân hàng (DVNH) là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng, gồm các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận”. Đây là cách phân loại phổ biến ở các nước phát triển, phù hợp WTO và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000. Khái niệm dịch vụ bán lẻ dành cho khách hàng cá nhân “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”.Mishkin (2001) LVTS Quản trị kinh doanh Về nguyên tắc, sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ là kênh giao dịch mà thông qua đó người tiêu dùng có thể thực hiện các tính năng tương tự tại quầy như rút tiền bằng thẻ ATM, gửi tiết kiệm oline, chuyển tiền,… mà không phải ra trực tiếp ngân hàng giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức lẫn chi phí giao dịch. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ hiện tại, dịch vụ bán lẻ không còn chủ yếu gói gọn trong khuôn khổ cung cấp tại quầy giao dịch truyền thồng nữa mà được các ngân hàng triển khai mạnh mẽ bởi trí tuệ nhân tạo (AI).
Trí tuệ nhân tạo hiện đang là xu hướng phát triển chung trên toàn thế giới và đang được ứng dụng mạnh mẽ trên các sản phẩm ngân hàng bởi khả năng xử lý dữ liệu thông tin một cách nhanh chóng và chính xác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng bán lẻ dành cho khách hàng các nhân là những dịch vụ mang tính riêng lẻ được thiết kế dành cho từng đối tượng cá nhân với đa dạng các loại sản phẩm như tiền gửi, cho vay, thanh toán, ….được cung cấp bằng nhiều hình thức đa dạng từ tại quầy đến thông qua internet hiện đại. Các đặc trưng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ dành cho khách hàng cá nhân Đối tượng DVNHBL gồm số lượng rất lớn các cá nhân: khách hàng cá nhân là đối tượng người tiêu dùng kỳ vọng với số lượng lớn và nhu cầu sử dụng dịch vụ cao do thời kỳ đổi mới cùng hàng loạt các tiêu chí tiêu dùng hiện đại làm thay đổi nhận thức trong sinh hoạt, do đó nguồn khách hàng chiếm quy mô lớn trong cơ cấu ngân hàng. Vì vậy ngân hàng cần tập trung thu hút tối đa nguồn khách hàng cá nhân với việc tăng bán các sản phẩm dịch vụ bán lẻ nhằm khai thác triệt để nguồn lợi nhuận từ phân khúc này.
Sản phẩm DVNHBL rất phong phú, đa dạng: do sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dành cho đối tượng cá nhân với đặc điểm số lượng lớn về quy mô, đa dạng về phân khúc như trình độ, thu nhập, thị hiếu, nhu cầu, sở thích, công việc,…. nên nhu cầu của từng đối tượng đối với các loại hình dịch vụ là hoàn toàn khác nhau, việc cung cấp dịch vụ nhằm thoã mãn tất cả các đối tượng tiềm năng đòi hỏi phải đa dạng, phong phú nắm bắt được thị hiếu thay đổi liên tục, môi trường tác LVTS động và nền kinh tế chịu Quản trị kinh nhiều ảnh hưởng doanh (nền kinh tế chịu tác động bởi xu hướng chuyển đổi số, tác động mạnh bởi hội nhập, dịch bệnh covid-19,…) Số lượng giao dịch lớn, giá trị từng giao dịch nhỏ: dù số lượng khách hàng lớn, nhu cầu sử dụng dịch vụ cao, dù vậy các giao dịch cá nhân thường có giá trị nhỏ chủ yếu là chuyển tiền cá nhân, thanh toán hàng hoá, rút tiền,…. nên lợi nhuận riêng lẻ không cao nhưng nếu tính tổng trên nguồn thu thì đó lại là một con số đáng kể. Cho nên việc tăng số lượng khách hàng nhằm tăng nguồn thu là việc cấp bách mà ngân hàng nên nghiên cứu phát triển hiện nay.
Mạng lưới phân phối rộng khắp và đa dạng: để đáp ứng được khối lượng khách hàng cá nhân rộng lớn và rải rác khắp nơi đòi hỏi ngân hàng cần có nhiều mạng lưới phân phối rộng khắp mọi miền đất nước. Bên cạnh cách thức giao dịch tại quầy- truyền thống, ngân hàng cần đẩy mạnh mạng lưới cung cấp thông qua trí tuệ nhân tạo (AI) giúp người tiêu dùng có thể tiếp cận dễ dàng thông qua internet, song song với việc đa dạng, nâng cấp các kênh phân phối cũ, kênh quầy,… 7 DVNHBL cần có hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đại và luôn cập nhật: Với công nghệ hiện đại cho phép mọi giao dịch được hạch toán nhanh chóng kịp thời, chính xác theo từng dịch vụ. Việc các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ ra đời ra đời với khả năng thực hiện các giao dịch trực tuyến, gửi tiết kiệm online, chuyển tiền nhanh 24/7, cho vay tín chấp, … đã đẩy mạnh hoạt động của ngân hàng đem lại nguồn thu lớn vì vậy đòi hỏi ngân hàng cần có kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại đem lại sự tiện ích, niềm tin sản phẩm, sự trải nghiệm hoàn hảo cho người sử dụng và phải luôn được cập nhật phù hợp với xu hướng người tiêu dùng. Nhạy cảm với chính sách chăm sóc khách hàng và các yếu tố thị trường.
Trong lĩnh vực bán lẻ khách hàng dễ thay đổi tâm lý hoặc các yếu tố thị trường như về giá, khuyến mãi,… Ngân hàng BIDV với những sản phẩm, dịch vụ nổi trội như gói dịch vụ dành cho sinh viên, công nhân viên chức, gói B-free miễn phí chuyển tiền dành cho khách hàng cao cấp, việc ngân hàng đẩy mạnh các kênh phân phối hiện đại theo LVTS hướng an toàn và Quản tiên phong trịcác ứng dụng kinh thành doanh tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng nổi trội trong đó với sản phẩm công nghệ smartbanking với nhiều tính năng mới mẻ như trợ lý ảo, trò chuyện, thanh toán, mua bán ngoại tệ trực tuyến, nộp rút tiền mặt tại trụ ATM không dùng thẻ,…với những nổi trội đó BIDV đã thu hút một lượng khách hàng lớn trẻ tuổi có xu hướng khám phá sử dụng sản phẩm công nghệ của ngân hàng. Đặc biệt ngân hàng BIDV chi nhánh Bình Dương đang có những hướng đi riêng khi tập trung bán lượng lớn sản phẩm bán lẻ thông qua hợp đồng với nhiều trường học, công ty xí nghiệp trong mở thẻ chi lương, tích hợp sản phẩm thẻ ngân hàng với thẻ sinh viên, triển khai thu hộ học phí qua kênh ứng dụng điện tử smartbanking, cùng với nhiều tiện ích như thanh toán điện, nước, thu hộ bảo hiểm,….đối tượng khách hàng được BIDV hướng đến chủ yếu là nhóm khách hàng trẻ có nhu cầu sử dụng dịch vụ cao, đặc biệt trong quá trình dịch covid-19 ngân hàng chủ yếu đẩy mạnh các dịch vụ thông minh như đăng ký dịch vụ, thanh toán, gửi tiền, bán ngoại tệ hoàn toàn thông qua liên kết internet. Các loại dịch vụ ngân hàng bán lẻ 2. Dịch vụ huy động vốn Là việc ngân hàng tiếp nhận nguồn tiền nhàn rỗi từ khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, đây là nguồn vốn chính của ngân hàng để sử dụng cho các hoạt động tín dụng, đầu tư,….
Huy động vốn có cách hình thức sau: Huy động vốn từ tài khoản tiền gửi Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không có thoả thuận trước về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tương đối ổn LVTS Quản trị kinh doanh định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. mục đích là tạo cho khách hàng có được nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có.
Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá: phát hành trái phiếu, phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác. Dịch vụ cho vay Theo mục 2- Điều 3- Thông tư 18/2019/TT-NHNN về quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng với khách hàng, “Giải ngân trực tiếp cho khách hàng là việc công ty tài chính giải ngân cho vay tiêu dùng trực tiếp cho khách hàng bằng tiền mặt hoặc thông qua việc sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay tiêu dùng, đảm bảo kiểm tra, giám sát mục đích sử dụng vốn vay theo quy định của pháp luật.