đặt vấn đề, khai thác khác nhau, đã có một số định nghĩa về dịch vụ ngân hàng bán lẻ được công nhận phổ biến như sau: Theo Tổ chức Thương mại thế giới WTO, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi mà khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những chi nhánh hoặc phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ bao gồm: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ và một số dịch vụ khác đi kèm. Các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT tập trung phân tích ứng dụng của công nghệ hiện đại vào các sản phẩm của ngân hàng cũng như tầm quan trọng của sự ứng dụng đó trong hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện đại và đi đến kết luận: Ngân hàng bán lẻ là ngân hàng cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh truyền thống hoặc thông qua phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Từ điển Tài chính Đầu tư Ngân hàng Kế toán Anh Việt, Nhà xuất bản Khoa học và Kinh tế năm 1999 định nghĩa: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. Tuy nhiên, trên đây chỉ là các khái niệm đưa ra trên cơ sở phân loại theo đối tượng khách hàng.
Xét theo khía cạnh về kênh phân phối đến khách hàng, có quan 8 điểm cho rằng: Bán lẻ là hoạt động phân phối mà trong đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện, triển khai các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Trên cơ sở tham khảo các kết luận trên đây và qua tìm hiểu thực tế tại một số NHTM Việt Nam, có thể khái quát khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính và phi tài chính tới từng khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông qua hệ thống mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch hoặc dựa trên nền tảng công nghệ mạnh mẽ của các ngân hàng và tổ chức tài chính nhằm gia tăng tối đa các tiện ích cho khách hàng. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Từ khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ nêu trên, có thể tổng hợp một số các đặc điểm nổi bật của dịch vụ ngân hàng bán lẻ như sau: Đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ lớn.
Ngân hàng bán lẻ là hoạt động kinh doanh của NHTM hướng đến khách hàng là từng cá nhân và hộ gia đình riêng lẻ nên nhóm đối tượng này có số lượng rất lớn và phân bổ rộng khắp trên cả nước, ở mọi vùng miền… Danh mục sản phẩm phong phú và ngày càng cải tiến, hoàn thiện. Đối tượng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ chủ yếu là khách hàng cá nhân, là những khách hàng có sự khác nhau về tuổi tác, giới tính, văn hóa, trình độ học vấn, sở thích… nên sự mong đợi về giá trị các sản phẩm ngân hàng mang lại cũng rất khác biệt và phong phú. Để thành công trong phát triển ngân hàng bán lẻ, các NHTM cần nắm bắt và đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng bằng cách không ngừng thay đổi, hoàn thiện danh mục các dịch vụ cung cấp đến khách hàng, đảm bảo luôn có sự đa dạng, phong phú, đổi mới và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chi phí bình quân khá cao do tổng số lượng giao dịch là lớn nhưng giá trị của mỗi giao dịch thường nhỏ lẻ.
Đối tượng khách hàng mà dịch vụ ngân hàng bán lẻ hướng đến có quy mô lớn dẫn đến số lượng các giao dịch phát sinh là rất nhiều và thường xuyên. Tuy vậy, so với các giao dịch ngân hàng bán buôn thì giá trị của mỗi 9 giao dịch ngân hàng bán lẻ thường nhỏ hơn nhiều lần. Bên cạnh đó, việc phục vụ mỗi đối tượng khách hàng của ngân hàng bán lẻ, NHTM cũng phải trả một số các chi phí cố định như đối với nhóm đối tượng khác nên chi phí bình quân khá cao. Do vậy, để hoạt động kinh doanh bán lẻ đạt hiệu quả cao, các NHTM cần chú trọng nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra các giải pháp phù hợp để gia tăng số lượng khách hàng nhằm tạo lợi thế theo quy mô, từ đó tiết kiệm khoản chi phí này.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro thấp. Với đặc trưng các giao dịch của nhóm khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh thường có giá trị nhỏ, không quá cao nên mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải cũng không nhiều, là yếu tố góp phần mang lại tính an toàn, bền vững trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng bán lẻ phát triển dựa trên nền tảng công nghệ cao và marketing giữ vai trò ngày càng quan trọng. Việc ứng dụng những thành quả của khoa học công nghệ trong công tác quản trị cũng như phát triển các sản phẩm dịch vụ, kênh phân phối là điều kiện cần thiết không thể thiếu của các NHTM trước bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và xu thế số hóa mạnh mẽ ngành ngân hàng như hiện nay.
Để thành công trong hoạt động kinh doanh bán lẻ của NHTM, marketing là công tác không thể thiếu và ngày càng trở nên cần thiết bởi nhóm đối tượng khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh của ngân hàng bán lẻ rất nhạy cảm với các chiến lược tiếp thị, quảng cáo, mức độ trung thành không cao và dễ có sự thay đổi. Do vậy, các NHTM cần chú trọng đẩy mạnh công tác marketing trong chiến lược kinh doanh nhằm thu hút khách hàng mới, duy trì nền khách hàng hiện hữu, gia tăng lòng trung thành của khách hàng và tạo sự gắn kết bền vững với ngân hàng. Phân loại các loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ Khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khách hàng cá nhân, hộ gia đình đa dạng về trình độ học vấn, thu nhập, độ tuổi… nên nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ cũng khác nhau. Việc phân chia thành các sản phẩm bán lẻ cụ thể, chi tiết có tác dụng hướng tới từng nhóm khách hàng mục tiêu, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Huy động vốn Đối với các NHTM, năng lực tài chính được xem là yếu tố quan trọng, quyết định và đảm bảo sức mạnh, sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Một ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ tạo nền tảng giúp hoạt động kinh doanh được ổn định và phát triển bền vững. Nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động một cách hiệu quả nhất, các ngân hàng đều nỗ lực tìm kiếm, gia tăng và áp dụng các chiến lược, hình thức huy động vốn khác nhau. Có ba loại hình huy động vốn chủ yếu là: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá.
* Tiền gửi thanh toán: là hình thức khách hàng gửi tiền vào ngân hàng nhằm mục đích chính là thực hiện các giao dịch thanh toán như mua bán hàng hóa, dịch vụ hay các khoản thanh toán khác phát sinh. Với ưu điểm là nguồn vốn có chi phí thấp nên các NHTM luôn cố gắng hoàn thiện và đẩy mạnh chất lượng dịch vụ thanh toán, đảm bảo đáp ứng tối đa nhu cầu thanh toán của khách hàng nhằm thu hút, gia tăng số lượng tài khoản mở mới, duy trì số dư, giúp gia tăng quy mô nguồn vốn huy động này. * Tiền gửi tiết kiệm: là sản phẩm tiền gửi mà khách hàng lựa chọn khi có nhu cầu tiết kiệm, tích lũy cho tương lai. Căn cứ vào thời hạn của sản phẩm, tiền gửi tiết kiệm được phân thành hai loại chủ yếu là: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là hình thức gửi tiết kiệm vào ngân hàng mà khách hàng có thể gửi vào hoặc rút ra theo nhu cầu phát sinh mà vẫn được hưởng lãi tính trên thời hạn gửi thực tế. Sản phẩm này gần giống với tiền gửi thanh toán, tuy nhiên có sự khác biệt là không thể sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khách hàng thường chọn sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn nhằm mục đích đảm bảo an toàn tài sản và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn đồng thời vẫn được hưởng lãi tiền gửi. - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là sản phẩm tiền gửi mà theo đó khách hàng gửi một số tiền vào ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định và được hưởng tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với kỳ hạn gửi.
Khi khách hàng có nhu cầu rút 11 tiền trước hạn cũng được ngân hàng đáp ứng, tuy nhiên mức lãi suất được hưởng là thấp hơn. Hiện nay sự cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn từ tiền gửi giữa các NHTM, tổ chức tín dụng diễn ra rất quyết liệt. Các ngân hàng không ngừng đưa ra các sản phẩm tiền gửi với sự đa dạng về kỳ hạn, lãi suất hấp dẫn, phương thức trả lãi linh hoạt và nhiều ưu đãi nhằm thu hút và phát triển nền khách hàng. * Giấy tờ có giá: phát hành giấy tờ có giá cũng là một hình thức phổ biến mà các NHTM áp dụng nhằm huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Các loại giấy tờ có giá bao gồm: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu…, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả một khoản tiền trong một thời hạn nhất định đi kèm điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa ngân hàng và người mua. Phát hành giấy tờ có giá với kỳ hạn dài đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập và gia tăng quy mô nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng. Do vậy, để đẩy mạnh hiệu quả huy động vốn từ hình thức này, các ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất hấp dẫn hơn nhiều so với các sản phẩm tiền gửi khác có cùng kỳ hạn, mở rộng phạm vi các tiện ích đi kèm như được chuyển nhượng, được vay cầm cố… 1.