CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT I.TỔNG QUÁT CHUNG VỀ VẬT LIỆU MAO QUẢN TRUNG BÌNH VÀ VAI TRÒ XÚC TÁC I. Sơ lược về xúc tác rắn [7, 10] Xúc tác rắn là xúc tác tồn tại ở pha rắn. Ưu điểm của việc dùng xúc tác rắn (xúc tác dị thể) là thân thiện với môi trường, dễ phân tách hỗn hợp sản phẩm. Có thể thấy rằng, trên xúc tác rắn, khi thực hiện phản ứng ở nhiệt độ tương đối thấp, hiệu suất phản ứng không cao.
Tuy nhiên, khi tăng nhiệt độ và áp suất của hệ phản ứng, hiệu suất phản ứng tăng rất cao. Với những ưu điểm về sự thuận lợi trong quá trình phân tách sản phẩm, hướng sử dụng xúc tác rắn cho phản ứng này là một hướng đáng được quan tâm. Đặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng xúc tác axit rắn nhôm oxit hoạt tính γ – Al 2O3 trong nhiều lĩnh vực khác nhau. * Xúc tác axit rắn: nhôm oxit hoạt tính γ- Al2O3 Nhôm oxit hoạt tính có độ phân tán cao và cấu trúc khuyết, ở dạng γ-Al2O3 chủ yếu được dùng làm xúc tác trong công nghiệp lọc, hoá dầu, làm chất mang và chất hấp phụ.
Ngoài ra γ-Al2 O3 còn được dùng trong công nghiệp dược phẩm, đặc biệt dùng để xử lý nước chứa flo và asen. Phản ứng chính điều chế γ-Al2O3 từ hydroxit nhôm hoạt tính : 2 Al (OH)3 = Al2O3 + 3H2O 480oC I. Giới thiệu vật liệu mao quản trung bình (MQTB) Vật liệu rắn xốp có diện tích bề mặt riêng lớn và xốp nên nó được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, kỹ thuật để làm chất hấp phụ và chất xúc tác. Theo danh pháp UIPAC, vật liệu cấu trúc mao quản được chia thành 3 loại dựa trên kích thước mao quản (dpore ) của chúng [7,10] + Vật liệu vi mao quản (microporous): d pore < 2 nm: zeolit và các vật liệu có cấu trúc tương tự (aluminosilicat, aluminophotphat AlPO4).
+ Vật liệu mao quản trung bình (mesoporous): 2 < d pore < 50 nm: M41S, MSU, Nguyễn Thị Hồng Thắm Cao học khóa 2008-2010 9 Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành : Công nghệ hữu cơ - hóa dầu SBA, các oxit kim loại MQTB. + Vật liệu mao quản lớn (macroporous): d pore > 50 nm: gel mao quản, thủy tinh mao quản. d < 2nm 2 < d < 50nm d > 50nm Vi mao quản Mao quản trung bình Đại mao quản (Micropore) (Mesopore) (Macropore) Hình 1.1: Phân loại mao quản củaUIPAC Vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, lần đầu tiên hai nhóm nghiên cứu độc lập của Nhật Bản và Mỹ đã công bố tổng hợp thành công vật liệu silicat có cấu trúc trật tự, được gọi là vật liệu rây phân tử MQTB (MMS). Từ đó đã có nhiều vật liệu MMS được tổng hợp như FSM, M41S, HMS, MSU-x, SBA-15 và SBA- 16,….Các vật liệu cao cấp này có đường kính mao quản đồng đều, kích thước mao quản trung bình (dao động trong khoảng 20 – 100 Å), rộng hơn kích thước mao quản của zeolit từ 3 đến 4 lần và diện tích bề mặt riêng vô cùng lớn (500 – 1000 m 2/g) [3].
Chính vì những ưu điểm như vậy nên vật liệu MQTB đã mở ra một hướng phát triển to lớn trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ, khắc phục được những nhược điểm của zeolit như chuyển hóa được những phân tử có kích thước phân tử lớn, cồng kềnh. Do đó chúng được ứng dụng nhiều trong chuyển hóa các phân tử dầu nặng, các sản phẩm từ các hợp chất thiên nhiên, xử lý các chất gây ô nhiễm có kích thước phân tử lớn [5]. Họ vật liệu M41S được tổng hợp bằng cách kết hợp một cách hợp lý nguồn silic (tetra etyl ortho silicat hay thủy tinh lỏng), chất định hướng cấu trúc (ĐHCT) ankyl trimetyl amoni halogenua (cetyl trimetyl amoni bromua), kiềm (NaOH hay tetra etyl amoni hiđroxit) và nước. Phụ thuộc vào bản chất của chất ĐHCT, nồng Nguyễn Thị Hồng Thắm Cao học khóa 2008-2010 10 Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành : Công nghệ hữu cơ - hóa dầu độ, và nhiệt độ mà các pha giả bền có thể thu được là MCM-41 (có cấu trúc lục lăng), MCM-48 (có cấu trúc lập phương), MCM-50 (có cấu trúc lớp).
Trên thế giới, vật liệu phân tử MQTB đang được nghiên cứu và ứng dụng nhiều theo các hướng sau: Kết tinh lại mao quản bằng chất ĐHCT thích hợp để có thể kiểm soát kích thước mao quản; trát hay tẩm lên mao quản một lớp vật liệu tinh thể làm chất xúc tác để có thể phát triển bề mặt của vật liệu xúc tác; tinh thể hóa tường vô định hình; thay thế đồng hình Si bằng các kim loại chuyển tiếp để có thể thay đổi kích thước mao quản và lực axit. Cho đến nay, ứng dụng của vật liệu mao quản lớn rất hạn chế do diện tích bề mặt riêng nhỏ, kích thước mao quản lớn và phân bố không đồng đều. Ngược lại, vật liệu vi mao quản đặc biệt là zeolit đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực xúc tác, hấp phụ do cấu trúc mao quản đồng đều, thể tích mao quản và bề mặt riêng lớn, tính axit mạnh và có tính bền nhiệt, bền thủy nhiệt. Tuy nhiên, hạn chế của zeolit là không có hiệu quả đối với các quá trình có sự tham gia của các phân tử có kích thước lớn (>13 Å) do hạn chế sự khuếch tán trong hệ thống mao quản.
Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm kiếm một phương pháp tổng hợp để thu được những vật liệu có cấu trúc giống tinh thể zeolit với đường kính mao quản lớn hơn. Đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu của hãng Mobil đã phát minh ra phương pháp tổng hợp họ vật liệu mao quản trung bình (MQTB) (ký hiệu là M41S) có cấu trúc mao quản với độ trật tự cao, kích thước mao quản phân bố trong khoảng 15 ÷ 100 Å và có diện tích bề mặt lớn nhờ tác dụng tạo cấu trúc MQTB của chất hoạt động bề mặt (HĐBM) [2, 7, 8, 10]. Nhiều họ vật liệu MQTB đã được tổng hợp thành công như MSU, SBA, UL- Zeolit, M41S, các oxyt kim loại MQTB… I. Phân loại vật liệu MQTB [5, 7, 10] * Phân loại theo cấu trúc + Cấu trúc lục lăng (hexagon): MCM-41, MSU-H.
+ Cấu trúc lập phương (cubic): MCM-48. + Cấu trúc lớp mỏng (laminar): MCM-50. Nguyễn Thị Hồng Thắm Cao học khóa 2008-2010 11 Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành : Công nghệ hữu cơ - hóa dầu + Cấu trúc không trật tự (disordered): KIT-1. Lập phương C.2: Các dạng cấu trúc của vật liệu MQTB * Phân loại theo thành phần + Vật liệu MQTB trên cơ sở oxit silic (M41S, SBA, MSU): Trong nhóm này còn bao gồm các vật liệu MQTB có thể thay thế một phần Si trong mạng lưới bằng các kim loại có hoạt tính khác như: Al-MCM-41, Ti, Fe-SBA-15… + Vật liệu MQTB không chứa silic: Oxit của các kim loại Al, Ga, Sn, Pb, kim loại chuyển tiếp Ti, V, Fe, Mn, Zn, Hf, Nb, Ta, W, Y và đất hiếm.
Giới thiệu một số vật liệu mao quản trung bình a .Bentonit Bentonit là vật liệu mao quản trung bình tự nhiên không trật tự, thuộc họ khoáng sét tự nhiên. Bằng các phương pháp hóa lý khác nhau, người ta xác định được rằng, khoáng sét là một dạng aluminosilicat tinh thể được cấu tạo từ các đơn vị cấu trúc cơ bản: các tứ diện SiO4 và các bát diện MeO 6 (Me thường là các nguyên tố Mg, Fe, Al,. Các tứ diện SiO 4 và các bát diện MeO 6 liên kết với nhau theo một trật tự nhất định, tạo ra mạng cấu trúc khoáng sét khác nhau, và do đó tạo ra các vật liệu khoáng sét có nhiều đặc tính riêng biệt. Bentonit là một khoáng sét tự nhiên được biết đến từ lâu và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, đặc biệt là trong hấp phụ và xúc tác.
Bentonit là tên gọi dân gian của một loại sét tự nhiên, chứa chủ yếu khoáng montmorillonit, được phát hiện và khai thác đầu tiên tại khu mỏ thuộc vùng Venton (Mỹ).) có công thức hóa học tổng quát là (OH) 9Al4Si 8O 20. Nguyễn Thị Hồng Thắm Cao học khóa 2008-2010 12 Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành : Công nghệ hữu cơ - hóa dầu Trong đó, tỷ lệ Al2O 3:SiO2 của montmorillonit thay đổi từ 1:2 đến 1:4, số phân tử nước từ 4 - 8. có một tính chất đặc biệt là: khung cấu trúc của nó có thể “co giãn” dưới sức ép của “ngoại lực”. Thực vậy, người ta có thể “chèn” các cation có kích thước lớn vào giữa các lớp bằng kỹ thuật trao đổi ion để “nới” rộng mao quản và thay đổi tính chất “xúc tác – hấp phụ”.
Sét Pilla (Pillared clays) được điều chế theo nguyên tắc đó. Ví dụ, Me-montmorillonit có khoảng cách mao quản là 10 – 20 Å (Me: Al, Mo, Cr, Fe.), nhờ vậy, Mont. có khả năng ứng dụng cho nhiều quá trình xúc tác và hấp phụ các phân tử lớn hơn so với zeolit. SBA-15 Năm 1998, vật liệu MQTB SBA-15 đầu tiên được tổng hợp thành công.
Với kích thước mao quản lớn (50-300 Å), đồng đều, thành mao quản dày, độ bền nhiệt và thủy nhiệt cao hơn MCM-41, vật liệu mao quản trung bình SBA-15 đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, trong lĩnh vực xúc tác và hấp phụ. Tuy nhiên, do SBA-15 là vật liệu trung hòa điện tích và không có tâm xúc tác oxy-hóa khử nên nếu sử dụng làm xúc tác thì người ta phải tìm cách đưa một số kim loại chuyển tiếp vào mạng cấu trúc của SBA-15 để tạo ra các tâm xúc tác như mong muốn. SBA-15 là vật liệu mao quản trung bình có hệ mao quản lục lăng 2 chiều (2D), độ dày thành mao quản có thể từ 30 – 70 Å, bề mặt riêng lớn (hàng trăm đến hàng nghìn m2/g). MCM-41 MCM-41 là vật liệu mao quản trung bình trong họ M41S, được hãng Mobil tổng hợp đầu tiên năm 1992.
MCM-41 có hệ mao quản sắp xếp trật tự lục lăng 1 chiều (1-D), kích thước mao quản có thể thay đổi từ 15 ÷ 100 Å tuỳ thuộc điều kiện tổng hợp. MCM-41 là vật liệu MQTB có bề mặt riêng rất lớn (hàng trăm đến hàng ngàn m2/g), mao quản rộng và trật tự, có khả năng phân tán tốt các pha hoạt động xúc tác lên bề mặt của nó nên nó được sử dụng làm chất mang cho rất nhiều phản ứng. Nguyễn Thị Hồng Thắm Cao học khóa 2008-2010 13 Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành : Công nghệ hữu cơ - hóa dầu Hình 1.3: Cấu trúc lục lăng (hexagon) của MCM-41 d. Al-MCM-41 Phương pháp tổng hợp vật liệu MQTB đầu tiên chủ yếu tập trung vào các vật liệu silicat và aluminosilicat do tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực xúc tác và chất mang xúc tác.