MỞ ĐẦU Nền kinh tế toàn câu nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng phụ thuộc vào năng lượng và trong đó dầu mỏ giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Giá dầu tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển nên kinh tế thế giới và hầu như mọi ngành công nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên quí giá này. Tuy nhiên, theo báo cáo của tô chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (gọi tắt là OPEC), năm 2016 lượng dự trữ dầu mỏ còn lại trên toàn cầu được ước lượng ở mức 1.216,78 ty barrel [1], với nhu cau tiêu thụ hang năm là 35 tỷ barrel/năm [2], lượng dự trữ dau thô chỉ đủ khai thác trong khoảng 35 năm tới. Trong kế hoạch dài hạn, khí thiên nhiên với lượng dự trữ lớn là nguồn nguyên liệu chính trong sản xuất khí hydro cũng như khí tổng hợp làm nhiên liệu trung gian để sản xuất nhiên liệu lỏng, giúp giảm bớt sự phụ thuộc vào dâu thô.
Theo đánh giá, lượng khí thiên nhiên dự trữ trên thế giới là 186.6 ngàn ty feet khối [3]. Trữ lượng nay đảm bảo sử dụng trong khoảng 52 năm (theo nhu cầu hiện tại 35516 tỷ m?/nam). Khí thiên nhiên với thành phan chủ yếu là CHa có ty lệ H/C cao rất thích hợp dùng để làm nguyên liệu sản xuất khí tổng hợp, một sản phẩm trung gian dùng cho sản xuất hóa chất có giá tri cao trong lĩnh vực lọc hóa dầu. Sản xuất khí tong hop chủ yếu sử dung nguồn nguyên liệu là khí tự nhiên có thành phan chính là CH4.
Tuy nhiên, trên thé giới có một số mỏ khí thiên nhiên có chứa hàm lượng CO? cao (nồng độ CO2 từ 10 đến 60 %tt hoặc cao hon), chủ yếu là mỏ khí ở các nước Đông Nam A, Úc, Nam Mỹ và Trung Đông [4]. Việt Nam cũng có những mỏ khí có chứa thành phan CO2 cao như mỏ ở bể Malay-Thổ chu. Ngoài ra, Việt Nam còn phát hiện một số mỏ khí không 16 ở phía Nam bề Sông Hong, nhưng có hàm lượng khí COs rất cao (> 60 — 90%) [5], mỏ Cá Voi xanh với trữ lượng không lỗ khoảng 150 tỷ m? là một niềm hy vọng mới cho đất nước Việt Nam về vẫn dé năng lượng. Tuy nhiên, hàm lượng CO: trong thành phần khí khá cao khoảng 30,5 %tt [6], gây khó khăn trong khai thác và vận chuyền.
Việc khai thác sẽ dẫn đến một lượng CO2 rất lớn thải vào môi trường. CO2 — khí gây hiệu ứng nhà kính là một trong những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng trái đất nóng lên và hiện tượng biến đổi khí hậu [7, 8]. Theo phòng nghiên cứu hệ thống trái đất của Mỹ (Earth System Research Laboratory), nồng độ khí COa trong không khí đã tăng từ 400,16 ppm năm 2015 lên 403,53 ppm vào năm 2016 [9] và dự đoán có thé tiếp tục tăng đến 661 ppm vào cuỗi thé ky thứ 21 [10]. 410E T a NƯN T “Ty T” TT T oe a I T” r3 E Full Record ending December 18, 2016 x 400E 2 - = MP - 2 ° S 370 : / Ye CÀI 39 & 340 se) whsfsith LÊN 'Z Mi: nn 7 319 ee tẾ SẾ NẾ Vi (DẾ (V SỐ GÌ Với lỗ VN | li VI TY GD ee eee II VI NV ee Hi VIP GẾ SP | 1960 1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 Hình 1.1: Nồng độ CO> trong không khí từ năm 1960-2016 Việc chuyên đối CHs và CO2 thành các sản phẩm có giá trị cao vừa giảm khí gây hiệu ứng nhà kính vừa sử dụng hiệu quả nguồn khí tự nhiên giàu CO2 vẫn còn là một thách thức lớn do các hợp chất này tương đối kém hoạt động [11].
Hướng chuyển đổi các khí này thành khí tổng hợp là một lựa chon khả thi [12]. Do đó, nhu cầu cần nghiên cứu một phản ứng để có thể sử dụng nguồn nguyên liệu là khí tự nhiên mà không can loại bỏ CO2 mang lại lợi ích cả về mặt kinh tê lan môi trường. Khí tong hop la mot hỗn hợp cua carbon monoxide (CO) và hydro (Hz2). Hỗn hợp khí này được sản xuất chủ yếu từ các quá trình reforming methane.
Dé điều chế khí tong hợp từ CHa có nhiều công nghệ như: reforming hơi nước (steam reforming), reforming khô (dry reforming) hoặc kết hợp giữa reforming hơi nước và reforming khô (bi-Reforming),. Reforming hơi nước su dụng nguyên liệu chỉ có thành phần CHa mà không có CO? [13]. Reforming khô đang nhận được rat nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu do quá trình này tận dụng luôn nguồn CO2 có sẵn trong mỏ khí làm nguyên liệu cho quá trình. Tuy nhiên, quá trình reforming khô chưa được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp do vấn đề liên quan đến chất xúc tác.
Chất xúc tác cho quá trình reforming khô bị giảm hoạt tính một cách nhanh chóng do lượng cốc tạo thành trên bề mặt xúc tác, do kim loại kết tụ hoặc bị Oxy hóa. Dé khắc phục sự mất hoạt tính xúc tác kim loại do sự lăng đọng cốc trong quá trình reforming khô các nhà nghiên cứu đã thêm hơi nước vào dòng nhập liệu của quá trình reforming khô, kết hợp các phản ứng sản xuất khí tong hop từ CH thành phan ứng bi-reforming. Nhiều nghiên cứu trước đây, chứng minh được khả năng nỗi trội của CeO2 trong việc giúp kim loại phân tán tốt trên chất mang, khả năng chống tạo cốc và là nguồn cung cấp oxy cho phản ứng trong phản ứng reforming hơi nước và reforming khô methane, giúp tăng tudi thọ của xúc tác [14-16]. Từ những nhiều ưu điểm của CeO trong xúc tác reforming methane, trong khuôn khổ đề tài này xúc tác cho quá trình bi-reforming dựa vào kim loại truyền thống — xúc tác nickel và cải tiễn chất mang mới CeO2 sẽ tiến hành nghiên cứu điều chế với hy vọng sẽ mang lại kết quả tốt hơn so với chất mang như AlaOa va MgQ,.
Dé tài luận văn nay tập trung vào các mục tiêu sau: - _ Điều chế được chất mang CeOa có kích thước nannomet với các dạng khác nhau (thanh, hạt và khối). - _ Đưa ra được quy trình điều chế và thành phần xúc tác Ni/CeO2 phù hợp dé thu được xúc tác Ni/CeO2 có hoạt tính cao cho phan ứng bi-reforming CHa. - Lam sáng tỏ mối quan hệ giữa thành phân, tính chất và hoạt tính xúc tác Ni/CeOz trong phan ứng bi-reforming CH4. Luận van nay được thực hiện tai Phong Dau khí — Xúc tác, Viện Công nghệ Hóa học thuộc Viện Hàn lam Khoa học va Cong nghệ Việt Nam.
CHUONG 2: TONG QUAN 2. KHÍ TONG HOP 2. Lich sw Vào những năm 80 của thé ky 18 khí tong hop được khám phá bởi Felice Fontan - nhà vat lý người Y. Đầu tiên, ông tao ra nó bằng cách đưa hơi nước vào than đá.
Khí thành phẩm nhận được gom có 50% H2, 40% CO va phan con lai la CO> va No. Ông đặt tên cho khí này là khí xanh (Blue Water Gas). Khí xanh cung cấp nhiệt lượng khoảng 11 MJ/mẺ. Ở nửa thế kỳ 19, khí xanh đóng vai trò quan trong trong lĩnh vực công nghiệp ở các nước châu Au [17].
Sau đó, khí xanh được đổi tên thành khí tong hop (syngas). Ứng dụng Khí tong hợp là một hỗn hợp khí với thành phan chính gồm có CO và Hạ, không màu, không mùi và có tỷ trọng thay đổi phụ thuộc vào tỷ lệ của CO và Ha. Nó được ứng dụng nhiêu trong các lĩnh vực như sau: - Tao ra điện (sử dụng turbin khí, Power Generation) - Nguyên liệu trung gian trong lĩnh vực lọc hóa-dầu để sản xuất ammoniac, methanol, DME và tong hợp Ficher-Tropsch [18] - Tao ra Ha cho quá trình xử lý nhiên liệu bang hydro trong nhà máy loc dầu và trực tiếp làm nhiên liệu sạch. CÔNG NGHỆ SAN XUẤT KHÍ TONG HỢP Có nhiều phương pháp sản xuất khí tong hợp phụ thuộc vào nguyên liệu dau vào, ví dụ như: - _ Khí hóa (than đá, sinh khối, cặn dau thô.
Khí hóa than đá Khí hóa than đá là một trong những công nghệ sản xuất khí tông hợp. Tuy nhiên, phương pháp này hiện tại không còn phô biến vì lý do môi trường và kinh tế. Khí hóa than có tới 50% carbon chuyền hóa thành CO2 trong khi với nhiên liệu là methane carbon chuyền hóa thành CO; là 25% [18]. Khái niệm Hơi nước phản ứng xúc tác với khí thiên nhiên (thành phân chính CHa) dé tạo thành hỗn hợp Hạ, CO, COa va CH¿ [18].
Steam reforming (SMR) dựa trên phản ứng dùng hơi nước oxy hóa nhẹ CHa. Cac phản ứng xảy ra như sau [19]: CH, +H,O = CO+3H,, AH$,.1) CO +H,O =: CO, +H,, AH®,, =- 41 kJ/mol (2.2) 2 CO == CO, +C, AH$,„„ =- 172,4 kJ/mol (2.4) C+H,O = CO+H,, AHS, =+ 131,3 kJ/mol (2.5) CO +0,5O, <= CO,, AHS, =- 283 kJ/mol (2.6) CO +3H, = CH, +H,O, AH®,,.7) Với nguyên liệu dau vào là khí thiên nhiên (CH¿a). Đâu tiên, phải tiễn hành xử lý lưu huỳnh trước khi cho vào thiết bị phản ứng reforming, lưu huỳnh được làm sạch nhờ xúc tac ZnO hoặc zeolite. Khí CH4 và hơi nước được đưa vào trong biết bị phan ứng reformer dé tạo thành hỗn hợp khí Hạ, CO và CO; qua những phan ứng (2.
Trong thiết bị phản ứng reformer có chứa nhiêu ông thép không rỉ chứa xúc tác được đốt nóng bang đèn đốt khí (furnace). Phan ứng thu nhiệt mạnh diễn ra ở khoảng nhiệt độ 500 — 900 °C và áp suất trên 20 atm. Hệ sô ty lượng của HaO/CH¿ trong phản ứng (2.1) là 1:1 (theo lý thuyết), tuy nhiên khi vận hành thực tế tỷ số này có thé lên đến 2,5 đến 3, đưa hơi nước dư dé giảm nguy co carbon lang đọng trên bề mặt xúc tác do phản ứng phân hủy methane (2.4) và phản ứng Boudouard (2. Nếu mục đích để sản xuất khí H› hỗn hợp khí ra từ thiết bị reformer sẽ làm nguội đến nhiệt độ 350 °C và tiếp tục đưa vào thiết bị phản ứng water gas shift để tiếp tục chuyển hóa CO thành COa và Ha phản ứng (2.
Uu nhược điểm quá trình reforming hơi nước - _ Ưu điểm: công nghệ phô biến được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp. - _ Nhược điểm: cần một lượng hơi nước lớn mà giá thành tạo ra hơi quá nhiệt cao, tạo thành lượng lớn CO2, khí tong hợp nhận được có tỷ lệ H2/CO = 3:1 phủ hợp cho sản xuất ammoniac nhưng không thuận tiện cho tổng hợp methanol, acid acetic và hydrocarbon theo phương pháp Fischer—Tropsch. Yêu cầu nguyên liệu đầu vào có nồng độ methane cao. Thiết bi phan ứng cần cung cấp nhiệt từ bên ngoài.
Xúc tác reforming hơi nước Xúc tac cho reforming hơi nước CH4 (SMR) là các kim loại nhóm VII.