Tổng quan luận án
Trong lĩnh vực tổng hợp hữu cơ, các phản ứng có sử dụng xúc tác acid như ester hóa, đồng phân hóa, hydrate hóa và polyme hóa đóng vai trò quan trọng. Trong đó, phản ứng tổng hợp fructone (ethyl (2-methyl-1,3-dioxolan-2-yl) acetate) – một hợp chất tạo hương vị táo được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, đồ uống, dược phẩm và sơn mài – thường sử dụng các xúc tác acid đồng thể truyền thống như acid sulfuric ($H_2SO_4$), acid hydrochloric ($HCl$), acid p-toluenesulfonic ($PTSA$) hoặc aluminium chloride ($AlCl_3$). Tuy nhiên, các acid vô cơ đồng thể bộc lộ nhiều hạn chế về tính ăn mòn thiết bị, khó tách và thu hồi sau phản ứng, không thể tái sử dụng và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường khi xả thải.
Xúc tác dị thể siêu acid dị đa (Heteropoly acid - HPA) dạng Keggin như $H_3PW_{12}O_{40}$ và $H_4SiW_{12}O_{40}$ có lực acid rất mạnh, không gây các phản ứng phụ như sulfo hóa hay clo hóa. Dù vậy, HPA nguyên chất ở dạng rắn có diện tích bề mặt riêng thấp (khoảng 1–15 $m^2/g$) và độ tan cao trong các dung môi phân cực (như nước, alcohol, ethylene glycol), khiến chúng bị hòa tan tạo thành hệ đồng thể, gây thất thoát xúc tác và khó tách sản phẩm. Để giải quyết vấn đề này, việc dị thể hóa HPA thông qua phân tán và cố định lên các chất mang rắn xốp có diện tích bề mặt lớn, đặc biệt là vật liệu mao quản trung bình Al-SBA-15 và vật liệu đa mao quản ZSM-5/SBA-15, được lựa chọn nhằm nâng cao độ bền hoạt tính và hạn chế hiện tượng rửa trôi trong môi trường phân cực.
Luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Trương Thị Hạnh với đề tài "Nghiên cứu tổng hợp xúc tác dị thể siêu acid cố định trên các chất mang Al-SBA-15 và ZSM-5/SBA-15 ứng dụng trong phản ứng tổng hợp fructone" được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thuộc chuyên ngành Hóa lý thuyết và Hóa lý (Mã số: 9 44 01 19), dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Xuân Núi và TS. Trần Quang Vinh, bảo vệ năm 2022.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Tổng hợp vật liệu xúc tác dị thể siêu acid HPA cố định trên các chất mang Al-SBA-15 và ZSM-5/SBA-15 bằng các phương pháp khác nhau để tạo ra vật liệu có tính acid cao, độ bền gắn kết HPA tốt.
- Đánh giá hoạt tính xúc tác và độ bền hoạt tính của vật liệu tổng hợp được trong phản ứng tổng hợp chất tạo hương fructone.
Nội dung nghiên cứu tập trung vào:
- Tổng hợp vật liệu mao quản trung bình biến tính Al-SBA-15 và vật liệu đa mao quản ZSM-5/SBA-15 có tỉ lệ $Si/Al$ phù hợp làm chất mang cố định HPA.
- Nghiên cứu các phương pháp gắn HPA lên chất mang qua các nhóm chức bề mặt và các quy trình xử lý khác nhau; khảo sát đặc trưng cấu trúc vật liệu.
- Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cố định HPA lên chất mang.
- Khảo sát hoạt tính xúc tác của vật liệu cho phản ứng tổng hợp fructone từ ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$) trong môi trường phân cực.
- So sánh, đánh giá hoạt tính và độ bền giữa các loại xúc tác dị thể, cũng như giữa xúc tác dị thể và xúc tác đồng thể.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các acid dị đa cấu trúc Keggin ($H_3PW_{12}O_{40}$), chất mang Al-SBA-15, chất mang ZSM-5/SBA-15 (HZSC) với các tỉ lệ $Si/Al$ khác nhau, các hệ vật liệu xúc tác $HPA/Al-SBA-15$ (HPAS) và $HPA/ZSM-5/SBA-15$ ($HPA/HZSC$), cùng phản ứng acetal hóa giữa ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$). Phạm vi thực nghiệm được triển khai tại Viện Hóa học, Học viện Khoa học và Công nghệ và Đại học Hàng hải Việt Nam trong giai đoạn hoàn thành năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án điểm lại các hướng nghiên cứu về dị thể hóa acid dị đa (HPA) trên các dạng chất mang khác nhau:
- Phương pháp tẩm (impregnation): Qi-Ying Liu và cộng sự (2004) tẩm HPA lên SBA-15 với hàm lượng 20–80% cho phản ứng alkyl hóa naphthalene với isopropanol, nhận thấy hàm lượng 50% cho độ chuyển hóa đạt 84,3%, tuy nhiên độ chuyển hóa giảm mạnh xuống 60% và 20% ở chu kỳ 2 và 3 do HPA liên kết yếu với nhóm silanol và bị hòa tan. Varsha và cộng sự (2014, 2015) tẩm acid phosphotungstic lên SBA-15 và MCM-41 cho phản ứng ester hóa acid oleic với methanol, mẫu chứa 23% HPA đạt hiệu suất 90% ở 40 °C sau 4 giờ. Frattini và cộng sự nghiên cứu HPW/SBA-15 trong phản ứng đồng phân hóa pinene. Sulikowski và Rachwalik tẩm HPA trên zeolite khử nhôm trong diethyl ether. Haber và cộng sự tẩm HPW lên zeolite Y và $SiO_2$ cho phản ứng khử nước ethanol, chỉ ra các hốc lớn ("bowl") trên zeolite Y có kích thước phù hợp giữ anion Keggin. Patel và Narkhede (2012) nghiên cứu HPW (10–40%) và $H_4SiW_{12}O_{40}$ trên zeolite Hβ cho phản ứng ester hóa acid béo và dầu đậu nành. Srinivas và cộng sự (2014) ngâm tẩm HPW lên zeolite Y (10–25% khối lượng) trong phản ứng ester hóa glycerol với t-butanol, đạt độ chuyển hóa 84% và độ chọn lọc monoether 85%. Moosavifar sử dụng $H_3PMo_{12}O_{40}$, $H_3PW_{12}O_{40}$ và $H_4SiW_{12}O_{40}$ trên zeolite Y cho phản ứng Biginelli với hiệu suất trên 90%. Marchena và cộng sự tẩm HPA lên $NH_4Y$ và $NH_4-ZSM-5$ phân hủy quang 4-chlorophenol. Ali Asame và cộng sự (2018) tẩm HPA lên kaolinite, bentonite, montmorillonite và silica aerosol cho phản ứng ester hóa acid acetic với heptanol, ghi nhận HPA bị rửa trôi nhanh ở chu kỳ 2.
- Phương pháp sol-gel tổng hợp trực tiếp: Yang và cộng sự (2005) đưa HPA vào quá trình tạo khung SBA-15, giúp duy trì tính acid sau 5 giờ xử lý thủy nhiệt. Martens và cộng sự tổng hợp trực tiếp HPA lên SBA-15 với hàm lượng đến 40% khối lượng cho phản ứng đồng phân hóa n-decane. Yihang Guo và J. Castanheiro tổng hợp HPA/silica và HPA/SBA-15 ứng dụng trong phản ứng chuyển hóa terpene và acid levulinic, xúc tác tái sử dụng được 7 chu kỳ.
- Phương pháp tạo liên kết với nhóm chức bề mặt: Kala Raj và cộng sự (2004) gắn HPA lên SBA-15 biến tính bằng APTES tạo liên kết ion với nhóm amin ($NH_2-SBA-HPA$), tuy nhiên diện tích bề mặt giảm từ 859 xuống 360 $m^2/g$. Hong Liu và cộng sự nghiên cứu hệ $HPA-NH_2-SBA-15$ cho phản ứng ester hóa acid acetic với n-butanol và phản ứng khử lưu huỳnh của dibenzothiophene.
- Phương pháp cố định muối của HPA: Chamark và cộng sự (2014) tẩm $Cs_2CO_3$ lên SBA-15 rồi đưa HPA vào để tạo muối Cs không tan trong mao quản. Fangli Jing và cộng sự cố định muối amoni của HPA lên SBA-15, $ZrO_2/SBA-15$ cho phản ứng oxy hóa isobutene thành acid methacrylic.
- Phương pháp tổng hợp HPA trực tiếp ("bẫy" trong zeolite): Mukai và cộng sự bẫy $H_3PMo_{12}O_{40}$ trong hốc lớn của zeolite Y có ion bù trừ $NH_4^+$ và $Cs^+$ cho phản ứng ester hóa acid acetic với ethanol. Wang và cộng sự bẫy 10% $H_3PMo_{12}O_{40}$ trong zeolite Y đề nhôm để khử lưu huỳnh. Wei và cộng sự tổng hợp 30% $PMo-CsY$ trong zeolite Y không đề nhôm. Chen và cộng sự bẫy $HPMo$ và Ni trong tinh thể nano H-ZSM-5 chuyển hóa n-octane. Sulikowski và cộng sự bẫy HPW trong hốc lớn faujasite Y. Nhóm tác giả Lê Thị Hoài Nam nghiên cứu tổng hợp các vật liệu đa mao quản ZSM-5/SBA-15 và ZSM-5/MCM-41 ứng dụng trong phản ứng cracking xúc tác.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là: khắc phục hiện tượng rửa trôi HPA trong môi trường phản ứng phân cực bằng cách thiết kế hệ chất mang mao quản trung bình Al-SBA-15 và chất mang lai đa mao quản ZSM-5/SBA-15 có tỉ lệ $Si/Al$ tối ưu; kiểm soát các phương pháp loại bỏ chất định hướng cấu trúc (ĐHCT) để bảo tồn nhóm silanol (-OH); kết hợp các tâm acid Bronsted $[AlO_4^-]$ với các cation bù trừ điện tích ($NH_4^+$, $Cs^+$) nhằm neo giữ HPA bền vững, phục vụ phản ứng acetal hóa tổng hợp fructone.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án dựa trên lý thuyết về acid dị đa (Heteropoly acid - HPA) thuộc họ polyoxometalate (POM). Cấu trúc chính được khảo sát là cấu trúc Keggin có công thức tổng quát $[X^{n+}M_{12}O_{40}]^{(8-n)-}$, trong đó $X$ là dị nguyên tử trung tâm ($Si^{4+}$, $P^{5+}$, $Ge^{4+}$, $As^{5+}$...), $M$ là kim loại chuyển tiếp ($W^{6+}$, $Mo^{6+}$, $V^{5+}$...). Cấu trúc Keggin sơ cấp gồm tứ diện trung tâm $XO_4$ bao quanh bởi 12 bát diện $MO_6$ chia thành 4 nhóm kết nối dạng cầu polyanion, liên kết với nhau qua các liên kết hydro và ion hydronium tạo nên cấu trúc thứ cấp. Ngoài ra, cấu trúc Wells-Dawson $[(X^{n+})2M{18}O_{62}]^{(2n-16)-}$ cũng là một dạng HPA siêu acid.
Lực acid của các acid rắn được xác định theo hàm acid Hammett $H_o$:
$$H_o = pK_{BH^+} - \log\left(\frac{[BH^+]}{[B]}\right)$$
Trong đó $[B]$ là nồng độ bazơ, $[BH^+]$ là nồng độ acid liên hợp, $K_{BH^+}$ là hằng số cân bằng phản ứng phân ly $BH^+ \leftrightarrow B + H^+$. Các chất có $H_o < -12$ được xếp vào nhóm siêu acid.
| STT |
Hợp chất |
Lực acid $H_o$ |
| 1 |
$H_2SO_4$ (100%) |
-11,94 |
| 2 |
Nafion |
-12,0 |
| 3 |
$H_3PW_{12}O_{40}$ |
-13,2 |
| 4 |
$AlCl_3-CuCl_2$ |
-13,7 |
| 5 |
$SbF_5/SiO_2-Al_2O_3$ |
-13,7 |
| 6 |
$SO_4^{2-}/TiO_2$ |
-14,5 |
| 7 |
$SO_4^{2-}/ZrO_2$ |
-16,1 |
Về tính chất phân ly trong dung môi acid acetic ở 25 °C, các acid HPA có giá trị $pK_i$ ($pK_1 = -\log K_i$) thấp hơn các acid vô cơ thông thường:
| Acid |
$pK_i$ |
| $H_3PW_{12}O_{40}$ |
4,70 |
| $H_4SiW_{12}O_{40}$ |
4,87 |
| $H_3PMo_{12}O_{40}$ |
4,68 |
| $H_4SiMo_{12}O_{40}$ |
2,10 |
| $HBr$ |
5,60 |
| $H_2SO_4$ |
7,00 |
| $HCl$ |
8,40 |
Trong phản ứng hữu cơ đồng thể, acid HPA thể hiện hoạt tính cao hơn $H_2SO_4$ từ 100 đến 1000 lần:
| Phản ứng |
Hiệu suất (%) |
Nhiệt độ (°C) |
| Hydrate hóa phenylacetylene |
100 |
60 |
| Olefin + $CH_3COOH \rightarrow$ Ester |
90 |
110 |
| Ester $\rightarrow$ Olefin + Acid carboxylic |
100 |
128 |
| Styrene + $HCHO \rightarrow$ 1,3-dioxane |
50 |
50 |
Độ bền nhiệt của HPA Keggin tuân theo thứ tự: $H_3PW_{12}O_{40} > H_4SiW_{12}O_{40} > H_3PMo_{12}O_{40} > H_4SiMo_{12}O_{40}$. Ở nhiệt độ trên 400 °C, cấu trúc Keggin phân hủy theo phản ứng:
$$H_3PW_{12}O_{40} \rightarrow \frac{1}{2}P_2O_5 + 12 WO_3 + \frac{3}{2} H_2O$$
Cơ chế phản ứng tổng hợp fructone từ ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$) diễn ra qua 4 giai đoạn nối tiếp:
- Proton hóa nhóm carbonyl của $EAA$ bởi tâm acid của xúc tác.
- Tác nhân nucleophile (một nhóm -OH của $EG$) tấn công vào carbon carbonyl mang điện tích dương.
- Tách phân tử nước ($H_2O$) tạo ion oxocarbenium trung gian.
- Nhóm -OH thứ hai của $EG$ tấn công nội phân tử đóng vòng dioxolane, nhả proton tái sinh tâm xúc tác acid và tạo sản phẩm fructone (ethyl (2-methyl-1,3-dioxolan-2-yl) acetate).
Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm
Vật liệu được tổng hợp bằng cách sử dụng chất định hướng cấu trúc copolymer khối Pluronic P123 ($(PEO){20}(PPO){70}(PEO){20}$), tiền chất silica tetraethyl orthosilicate ($TEOS$), nguồn nhôm, chất tạo cấu trúc vi mao quản tetrapropylammonium bromide ($TPABr$), cùng tiền chất HPA ($H_3PW{12}O_{40}$).
Các phương pháp phân tích đặc trưng hóa lý bao gồm:
- XRD (X-ray diffraction): Nhiễu xạ tia X góc nhỏ (xác định cấu trúc trật tự mao quản trung bình lục lăng) và góc lớn (xác định pha tinh thể Keggin và vi mao quản ZSM-5).
- FT-IR (Fourier Transform Infrared Spectroscopy): Phân tích phổ hồng ngoại xác định liên kết dao động đặc trưng của anion Keggin ($P-O$, $W=O$, $W-O-W$), nhóm silanol ($Si-OH$), và khung aluminosilicate.
- EDX (Energy-dispersive X-ray spectroscopy): Xác định thành phần và hàm lượng các nguyên tố $Si$, $Al$, $W$, $P$, $Cs$...
- BET (Brunauer-Emmett-Teller): Phân tích đẳng nhiệt hấp phụ - giải hấp phụ $N_2$ ở 77 K để xác định diện tích bề mặt riêng ($S_{BET}$), tổng thể tích mao quản ($V_t$) và đường kính mao quản trung bình ($D_p$).
- TPD-$NH_3$ (Temperature-Programmed Desorption of Ammonia): Giải hấp phụ amoniac theo chương trình nhiệt độ xác định số lượng và phân bố lực acid (tâm acid yếu, trung bình và mạnh).
- TEM / HR-TEM (Transmission Electron Microscopy): Quan sát hình thái học, cấu trúc kênh mao quản song song lục lăng của SBA-15 và tinh thể nano ZSM-5.
- Sắc ký khí (Gas Chromatography - GC): Đánh giá thành phần hỗn hợp phản ứng tổng hợp fructone sử dụng phương pháp chất nội chuẩn (Internal Standard - IS) để tính độ chuyển hóa của $EAA$ và độ chọn lọc tạo fructone.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về acid dị đa
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết tổng quan về acid dị đa và các phương pháp dị thể hóa:
- Định nghĩa, phân loại cấu trúc HPA: cấu trúc Keggin ($H_nXM_{12}O_{40}$), Wells-Dawson ($H_nX_2M_{18}O_{62}$), Anderson-Evans ($X^{n+}M_6O_{24}^{(n-12)-}$) và cấu trúc khuyết thiếu Lacunary.
- Phân tích các tính chất vật lý - hóa học: tính acid Bronsted siêu mạnh, tính oxy hóa - khử theo thứ tự kim loại $V > Mo > W$, độ bền nhiệt, tính tan trong nước và dung môi hữu cơ phân cực, diện tích bề mặt thấp của muối kim loại nhỏ so với muối cation lớn ($Cs^+$, $NH_4^+$, $K^+$ đạt 50–200 $m^2/g$).
- Đánh giá các phương pháp dị thể hóa HPA: phương pháp tẩm thông thường; phương pháp sol-gel tổng hợp trực tiếp; phương pháp gắn nhóm chức hữu cơ cầu nối (APTES); phương pháp cố định muối HPA không tan; phương pháp tổng hợp "bẫy" HPA trực tiếp trong hốc zeolite (supercages).
- Tổng quan về chất mang: chất mang mao quản trung bình Al-SBA-15 (ảnh hưởng của việc đưa Al vào khung silica và phương pháp loại bỏ chất ĐHCT P123 bằng nung, dung môi hoặc $UV/H_2O_2$ nhằm tránh ngưng tụ mất nhóm silanol); chất mang đa mao quản ZSM-5/SBA-15 kết hợp tính acid cao của vi mao quản ZSM-5 và không gian khuếch tán rộng của mao quản trung bình SBA-15.
- Ứng dụng xúc tác HPA trong các phản ứng chuyển hóa hữu cơ (ester hóa, alkyl hóa, đồng phân hóa, tổng hợp dị vòng Biginelli, xử lý môi trường) và tổng quan phản ứng tổng hợp fructone từ ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$).
Chương 2. Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết hóa chất, quy trình chế tạo mẫu và phương pháp đo đạc:
- Quy trình tổng hợp chất mang: Tổng hợp Al-SBA-15 thủy nhiệt với các tỉ lệ $Si/Al$ khác nhau sử dụng P123 và $TEOS$; khảo sát phương pháp loại bỏ chất ĐHCT (nung mẫu tạo Al-SBA-15-nung hoặc chiết dung môi / xử lý giữ nhóm -OH tạo Al-SBA-15-OH). Tổng hợp vật liệu đa mao quản ZSM-5/SBA-15 (HZSC) từ mầm vi mao quản ZSM-5 và pha mao quản trung bình SBA-15 với các tỉ lệ $Si/Al$ khác nhau.
- Quy trình đưa HPA lên chất mang: Chế tạo xúc tác $HPA/Al-SBA-15$ bằng phương pháp tổng hợp trực tiếp và phương pháp ngâm tẩm (các mẫu HPAS-3, HPAS-3.15, HPAS-7, HPAS-12...); đưa HPA lên ZSM-5/SBA-15 qua trao đổi ion bù trừ điện tích khung ($NH_4^+$, $Cs^+$).
- Phương pháp phân tích đặc trưng: Quy chuẩn đo XRD góc nhỏ ($2\theta = 0,5^\circ - 5^\circ$) và góc lớn ($2\theta = 5^\circ - 50^\circ$); đo FT-IR trong vùng 400–4000 $cm^{-1}$; đo TPD-$NH_3$ từ 100 đến 600 °C; đo đẳng nhiệt hấp phụ $N_2$ ở 77 K tính $S_{BET}$, $V_t$, $D_p$; đo phổ EDX xác định thành phần $Si, Al, W, P$; chụp ảnh TEM và HR-TEM.
- Quy trình phản ứng xúc tác: Tiến hành phản ứng acetal hóa giữa $EAA$ và $EG$ trong bình phản ứng có hồi lưu; xây dựng đường chuẩn định lượng sắc ký khí GC giữa nồng độ $EAA$ và tỉ lệ diện tích peak $EAA/IS$ để xác định chính xác độ chuyển hóa $EAA$.
Chương 3. Các kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu qua 4 phần nội dung chính:
-
Tổng hợp vật liệu HPA cố định trên chất mang Al-SBA-15:
- Ảnh hưởng của tỉ lệ $Si/Al$: Mẫu Al-SBA-15 có tỉ lệ $Si/Al = 15$ cho cấu trúc mao quản trật tự tốt, diện tích bề mặt riêng và thể tích mao quản cao, tạo điều kiện phân tán tối ưu pha hoạt tính HPA.
- Ảnh hưởng của phương pháp chế tạo: Phương pháp tổng hợp trực tiếp đưa HPA vào khung mạng gặp hạn chế do HPA bị vùi lấp sâu trong vi mao quản; phương pháp ngâm tẩm trên chất mang Al-SBA-15-OH (giữ lại các nhóm -OH bề mặt) cho hàm lượng HPA cố định cao và phân tán đồng đều hơn so với mẫu chất mang Al-SBA-15-nung (bị mất nhóm silanol do phản ứng ngưng tụ nhiệt).
- Đặc trưng cấu trúc: Giản đồ XRD góc nhỏ khẳng định vật liệu sau khi gắn HPA vẫn duy trì cấu trúc trật tự lục lăng đặc trưng của SBA-15; phổ FT-IR của các mẫu HPAS-3.15, HPAS-7, HPAS-12 thể hiện rõ các dải hấp phụ đặc trưng của anion Keggin ($PW_{12}O_{40}^{3-}$); kết quả TPD-$NH_3$ cho thấy mật độ và lực tâm acid tăng lên rõ rệt khi đưa HPA lên chất mang.
- Độ bền xúc tác: Khảo sát rửa xúc tác qua 5 lần bằng hỗn hợp ethanol - nước và chạy lặp 5 chu kỳ phản ứng cho thấy mẫu HPAS-3.15 giữ được hàm lượng HPA và duy trì độ chuyển hóa $EAA$ ổn định.
-
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng tổng hợp fructone:
- Ảnh hưởng của dung môi: Khảo sát các hệ dung môi khác nhau cho thấy phản ứng đạt độ chuyển hóa cao trong dung môi không phân cực hoặc điều kiện tối ưu phù hợp với tính chất của các chất phản ứng phân cực ($EAA$ và $EG$).
- Ảnh hưởng của lượng xúc tác, tỉ lệ mol và tác nhân phản ứng: Khảo sát biến thiên khối lượng xúc tác và tỉ lệ mol $EAA : EG$ xác định được điều kiện phản ứng tối ưu giúp cực đại hóa độ chuyển hóa $EAA$.
- So sánh với xúc tác đồng thể và khảo sát ion bù trừ điện tích: Xúc tác dị thể $HPA/Al-SBA-15$ cho hoạt tính tương đương các xúc tác đồng thể ($H_2SO_4$, PTSA), trong khi các ion bù trừ điện tích ($Cs^+$, $NH_4^+$) giúp tăng cường độ bền liên kết giữa anion Keggin và khung aluminosilicate.
-
Tổng hợp vật liệu HPA cố định trên chất mang ZSM-5/SBA-15 (HZSC):
- Đặc trưng chất mang và xúc tác: Giản đồ XRD góc nhỏ và góc lớn, kết hợp ảnh HR-TEM chứng minh sự tồn tại đồng thời của pha vi mao quản ZSM-5 và pha mao quản trung bình SBA-15 trong vật liệu HZSC.
- Ảnh hưởng của tỉ lệ $Si/Al$: Mẫu HZSC-50 có sự cân bằng giữa độ acid và diện tích mao quản trung bình.
- Hoạt tính và độ bền của $HPA/HZSC$: Xúc tác $HPA/HZSC-50$ thể hiện hoạt tính xúc tác cao trong phản ứng tổng hợp fructone, độ bền hoạt tính được duy trì tốt sau 5 chu kỳ phản ứng lặp lại mà không suy giảm đáng kể độ chuyển hóa.
-
So sánh vật liệu xúc tác HPA trên các chất mang khác nhau:
- Tổng hợp và so sánh hàm lượng HPA gắn kết, tính acid (TPD-$NH_3$), diện tích bề mặt (BET) và hoạt tính xúc tác giữa các hệ: SBA-15 thuần túy, Al-SBA-15 và ZSM-5/SBA-15.
- Kết quả chỉ ra chất mang Al-SBA-15 và ZSM-5/SBA-15 có khả năng neo giữ HPA vượt trội nhờ các tâm trao đổi ion Bronsted $[AlO_4^-]$, giúp xúc tác chống chịu tốt sự rửa trôi trong môi trường phân cực so với chất mang thuần silica SBA-15.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả chính
- Đã tổng hợp thành công hệ chất mang mao quản trung bình biến tính Al-SBA-15 và chất mang đa mao quản ZSM-5/SBA-15 có tỉ lệ $Si/Al$ phù hợp, giữ được độ trật tự cấu trúc mao quản và diện tích bề mặt riêng lớn.
- Đã xác định được điều kiện tối ưu để cố định acid dị đa $H_3PW_{12}O_{40}$ (HPA) lên Al-SBA-15 và ZSM-5/SBA-15 thông qua việc xử lý bảo tồn nhóm silanol (-OH) bề mặt và sử dụng các ion bù trừ điện tích ($Cs^+$, $NH_4^+$) tại các tâm Bronsted $[AlO_4^-]$.
- Các vật liệu xúc tác $HPA/Al-SBA-15$ và $HPA/ZSM-5/SBA-15$ đều duy trì được cấu trúc Keggin, có mật độ tâm acid cao, phân tán đồng đều và thể hiện hoạt tính cao trong phản ứng acetal hóa giữa ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$) tạo chất tạo hương fructone.
- Xúc tác dị thể điều chế được có độ bền gắn kết HPA cao, không bị rửa trôi đáng kể và duy trì hoạt tính tốt qua 5 chu kỳ phản ứng tái sử dụng trong môi trường phân cực.
Những đóng góp mới của luận án
- Phát triển quy trình chế tạo xúc tác dị thể siêu acid trên cơ sở cố định acid dị đa Keggin lên chất mang mao quản trung bình Al-SBA-15 bằng phương pháp ngâm tẩm trên chất mang được xử lý bảo tồn nhóm chức -OH, hạn chế sự suy giảm diện tích bề mặt và nâng cao độ bền liên kết của HPA.
- Ứng dụng thành công chất mang đa mao quản ZSM-5/SBA-15 kết hợp hệ vi mao quản và mao quản trung bình để cố định HPA thông qua cơ chế trao đổi ion bù trừ điện tích khung, tạo ra hệ xúc tác dị thể siêu acid có độ phân tán cao và độ bền nhiệt, thủy nhiệt tốt.
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện về ảnh hưởng của tỉ lệ $Si/Al$, phương pháp loại bỏ chất ĐHCT, bản chất ion đối và các thông số công nghệ (tỉ lệ mol, lượng xúc tác, dung môi) đến hiệu quả phản ứng tổng hợp chất tạo hương fructone.
Kiến nghị
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng việc sử dụng các hệ xúc tác $HPA/Al-SBA-15$ và $HPA/ZSM-5/SBA-15$ cho các phản ứng tổng hợp hữu cơ khác trong môi trường phân cực (như ester hóa acid béo, tổng hợp nhiên liệu sinh học biodiesel, phản ứng nhiều cấu tử).
- Nghiên cứu thử nghiệm hoạt tính và độ bền của xúc tác trên hệ thiết bị phản ứng dòng liên tục quy mô pilot.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện đánh giá hoạt tính và độ bền xúc tác trong quy mô phòng thí nghiệm gián đoạn (batch reactor) với số chu kỳ lặp lại là 5 chu kỳ. Việc kiểm soát hoàn toàn sự hòa tan vết của HPA ở quy mô lớn hơn hoặc thời gian phản ứng dài hơn cần tiếp tục được theo dõi định lượng chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát độ bền cơ học và tuổi thọ của xúc tác trong các thiết bị phản ứng lớp cố định dòng liên tục (fixed-bed continuous reactor).
- Mở rộng nghiên cứu cố định các dạng acid dị đa khác (như $H_4SiW_{12}O_{40}$, $H_6P_2W_{18}O_{62}$) và khảo sát trên các phản ứng chuyển hóa sinh khối hoặc xử lý hóa chất bảo vệ thực vật trong môi trường nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp quy trình thực nghiệm chi tiết về kỹ thuật tổng hợp vật liệu mao quản trung bình Al-SBA-15, vật liệu lai đa mao quản ZSM-5/SBA-15, cùng phương pháp luận trong việc dị thể hóa polyoxometalate lên chất mang rắn.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Hóa lý, Hóa xúc tác và Vật liệu nano: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích đặc trưng acid rắn bằng TPD-$NH_3$, phân tích cấu trúc xốp bằng BET/TEM, và phân tích động học phản ứng acetal hóa bằng sắc ký khí GC nội chuẩn.
- Đối với kỹ sư công nghệ hóa học: Cung cấp các thông số công nghệ thực nghiệm để định hướng thay thế xúc tác acid vô cơ đồng thể ăn mòn bằng xúc tác dị thể tái sinh trong sản xuất este và hương liệu.
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc Keggin của acid dị đa có đặc điểm gì?
Cấu trúc Keggin có công thức tổng quát $[X^{n+}M_{12}O_{40}]^{(8-n)-}$, gồm một tứ diện trung tâm $XO_4$ ($X = Si^{4+}, P^{5+}...$) được bao quanh bởi 12 bát diện $MO_6$ ($M = W^{6+}, Mo^{6+}...$) chia thành 4 nhóm liên kết tạo khối cầu polyanion, có tính acid Bronsted rất mạnh và độ bền nhiệt cao nhất trong các họ acid dị đa.
2. Vì sao HPA nguyên chất gặp khó khăn khi làm xúc tác dị thể trong môi trường phân cực?
Mặc dù HPA là chất rắn, nhưng chúng có diện tích bề mặt riêng rất nhỏ (1–15 $m^2/g$) và tan nhiều trong nước cùng các dung môi hữu cơ phân cực (alcohol, glycol), khiến HPA bị hòa tan thành hệ xúc tác đồng thể, không thể thu hồi và tái sử dụng sau phản ứng.
3. Hàm acid Hammett $H_o$ của $H_3PW_{12}O_{40}$ so với $H_2SO_4$ 100% như thế nào?
$H_2SO_4$ 100% có giá trị $H_o = -11,94$ (mốc đánh giá siêu acid), trong khi acid dị đa $H_3PW_{12}O_{40}$ có $H_o = -13,2$, thể hiện lực acid mạnh hơn $H_2SO_4$ và thuộc nhóm siêu acid.
4. Phản ứng tổng hợp fructone trong luận án diễn ra giữa các chất nào và gồm những giai đoạn nào?
Phản ứng diễn ra giữa ethyl acetoacetate ($EAA$) và ethylene glycol ($EG$) có xúc tác acid, trải qua 4 giai đoạn: proton hóa nhóm carbonyl, tác nhân nucleophile -OH tấn công, tách phân tử nước tạo ion oxocarbenium, và tác nhân -OH thứ hai đóng vòng nội phân tử tạo sản phẩm fructone.
5. Vai trò của việc đưa nhôm ($Al$) vào chất mang SBA-15 và ZSM-5/SBA-15 là gì?
Sự thay thế đồng hình của $Al^{3+}$ vào mạng silica tạo ra các tâm acid Bronsted mang điện tích âm $[AlO_4^-]$. Các tâm này cho phép trao đổi với các cation bù trừ điện tích ($Cs^+$, $NH_4^+$), từ đó tạo lực liên kết ion neo giữ chặt các anion Keggin của HPA, ngăn ngừa hiện tượng rửa trôi trong môi trường phân cực.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Hạnh đã giải quyết vấn đề dị thể hóa acid dị đa Keggin ($H_3PW_{12}O_{40}$) thông qua việc cố định thành công lên các chất mang mao quản trung bình Al-SBA-15 và đa mao quản ZSM-5/SBA-15. Bằng các phương pháp xử lý bảo tồn nhóm silanol bề mặt và liên kết ion qua tâm bù trừ điện tích khung, vật liệu xúc tác tổng hợp được có diện tích bề mặt lớn, mật độ tâm siêu acid cao và độ bền liên kết tốt. Hệ xúc tác dị thể này thể hiện hoạt tính cao và độ ổn định tốt qua nhiều chu kỳ phản ứng trong phản ứng tổng hợp chất tạo hương fructone từ ethyl acetoacetate và ethylene glycol, đáp ứng yêu cầu của quá trình xúc tác thân thiện với môi trường.