Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngày càng gia tăng, kéo theo sự gia tăng nhanh chóng của lượng nước thải sinh hoạt xả ra môi trường. Các khu ký túc xá sinh viên tại các trường đại học là những nguồn phát sinh nước thải sinh hoạt tập trung có tải lượng ô nhiễm lớn. Đặc trưng của nguồn nước thải này là chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học ($\text{BOD}_5$, $\text{COD}$), chất rắn lơ lửng ($\text{TSS}$), các chất dinh dưỡng chứa nitơ, photpho, dầu mỡ, chất tẩy rửa và mật độ vi sinh vật gây bệnh cao. Nếu không được thu gom và xử lý thích hợp trước khi xả vào nguồn tiếp nhận, nguồn thải này sẽ gây suy thoái chất lượng nước mặt và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh.

Tại khu ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, nước thải sau hệ thống bể tự hoại (bể phốt) và nước thải sinh hoạt từ các hoạt động tắm giặt, nhà bếp phần lớn được xả thẳng theo đường ống xuống dòng suối Làng Đanh chảy ngang qua khu vực mà chưa qua hệ thống xử lý triệt để. Trước yêu cầu bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, đề tài "Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải sinh hoạt ký túc xá K trường Đại học Nông lâm của hệ thống công nghệ AAO (Anarobic Anoxic Oxic)" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng sử dụng nước và xả thải nước sinh hoạt của sinh viên và các dịch vụ khác trong khu ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm.
  2. Đánh giá khả năng xử lý nước thải sinh hoạt ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm của hệ thống công nghệ sinh học AAO quy mô mô hình thực nghiệm.
  3. Đề xuất giải pháp quản lý và công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt khu ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải sinh hoạt (gồm dòng nước thải đen và dòng nước thải xám) phát sinh từ khu ký túc xá K và hệ thống công nghệ xử lý sinh học kết hợp AAO (Kỵ khí – Thiếu khí – Hiếu khí).
  • Phạm vi không gian: Khu ký túc xá K thuộc Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ quá trình khảo sát thực địa, lấy mẫu và tiến hành thực nghiệm được thực hiện trong 12 tháng (từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu thuộc nhóm đề tài thực nghiệm kỹ thuật môi trường kết hợp điều tra, khảo sát thực địa. Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên lý thuyết phân hủy sinh học các hợp chất ô nhiễm trong nước thải bằng chuỗi quá trình sinh hóa liên tục:

  • Quá trình kỵ khí (Anaerobic): Diễn ra qua 4 giai đoạn kế tiếp gồm thủy phân các hợp chất cao phân tử (polysaccharide, protein, lipid), acid hóa tạo thành các acid béo bay hơi và alcol, acetic hóa chuyển hóa thành acetate, $\text{H}_2$, $\text{CO}_2$ và giai đoạn methane hóa khử $\text{COD}$ tạo thành khí sinh học ($\text{CH}_4$, $\text{CO}_2$).
  • Quá trình thiếu khí (Anoxic): Dưới tác dụng của các chủng vi khuẩn dị dưỡng và tự dưỡng (đặc biệt là Nitrosomonas và Nitrobacter), quá trình khử nitrat diễn ra theo phản ứng: $\text{NO}_3^- \rightarrow \text{NO}_2^- \rightarrow \text{N}_2\text{O} \rightarrow \text{N}_2\uparrow$. Đồng thời, chủng vi khuẩn Acinetobacter thực hiện quá trình giải phóng và hấp phụ photphat. Bể anoxic được trang bị giá thể đệm sinh học PVC (diện tích bề mặt $230 - 250\text{ m}^2/\text{m}^3$) và máy khuấy chìm tạo dòng luân chuyển thiếu oxy.
  • Quá trình hiếu khí (Oxic/Aerotank): Vi sinh vật hiếu khí dạng bùn hoạt tính lơ lửng sử dụng oxy hòa tan được cấp từ máy sục khí để oxy hóa chất hữu cơ carbon thành $\text{CO}_2$, $\text{H}_2\text{O}$ và chuyển hóa amoni thành nitrat (nitrat hóa). Nồng độ bùn hoạt tính trong bể hiếu khí được duy trì ở mức $3.500\text{ mg/l}$, tỷ lệ tuần hoàn bùn đạt 100%. Nước sau lắng được dẫn qua khay khử trùng chứa viên Cloramin B để tiêu diệt coliform.

Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Nghiên cứu áp dụng các căn cứ pháp lý gồm Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP, Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT, Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT. Chất lượng nước thải đầu ra được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN 14:2008/BTNMT (Cột B).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp khảo sát và tính toán tải lượng: Xác định lưu lượng nước cấp sinh hoạt dựa trên số liệu quản lý của Ban quản lý ký túc xá (3.764 sinh viên tại 16 dãy nhà và 10 cán bộ/nhân viên dịch vụ). Tính toán lượng nước thải sinh hoạt theo hệ số phát thải $K = 0,8$ (80% lượng nước cấp). Lượng nước thải đen được tính với định mức $20\text{ lít/người/ngày}$.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Mẫu nước thải được lấy lặp lại 3 lần cho mỗi đợt theo TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-3:2008. Các chỉ tiêu đo nhanh tại hiện trường gồm pH (pH kế), oxy hòa tan DO (bút đo DO), tổng chất rắn hòa tan TDS (bút đo TDS). Các chỉ tiêu phân tích tại Viện Kỹ thuật và Công nghệ Môi trường (Hà Nội) bao gồm:
    • Tổng chất rắn lơ lửng ($\text{TSS}$): phương pháp SMEWW 2540B.
    • Nhu cầu oxy sinh hóa sau 5 ngày ($\text{BOD}_5$): TCVN 6001:2008 (ISO 5815-2:2003).
    • Tổng Nitơ ($\text{T-N}$): phương pháp Kjeldahl (Ken-đan).
    • Tổng Photpho ($\text{T-P}$): phương pháp so màu theo TCVN 6202:2008.
    • Tổng Coliform: kỹ thuật màng lọc theo TCVN 8775:2011.
    • Các chỉ tiêu hóa học khác: $\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_3^-$, $\text{PO}_4^{3-}$, dầu mỡ, chất hoạt động bề mặt.
  • Thiết lập mô hình thực nghiệm AAO: Mô hình chế tạo bằng kính có dung tích tổng thể 40 lít gồm ngăn kỵ khí 20 lít, hai ngăn sục khí (thiếu khí và hiếu khí, mỗi ngăn 10 lít) gắn giá thể nhựa hình trụ kích thước $1,5 \times 2,0\text{ cm}$; hệ thống máy sục khí công suất $0,1 - 0,5\text{ l/s}$; 2 máy bơm tuần hoàn lưu lượng $0,01\text{ l/s}$; 1 bể lắng bùn thủy tinh 15 lít và giá khử trùng Cloramin B. Hai dòng nước thải đen và xám được phối trộn theo tỷ lệ thực tế $1:5$ trước khi nạp vào hệ thống để vận hành và lấy mẫu đánh giá ở các mốc thời gian lưu 3 ngày và 5 ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thu thập được tổng hợp, phân tích thống kê và tính toán hiệu suất xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt tại các khu ký túc xá đại học. Phần mở đầu xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, 4 ý nghĩa trong học tập - nghiên cứu khoa học và các giá trị thực tiễn: cung cấp mô hình thực nghiệm cho sinh viên ngành môi trường, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm lưu vực suối Làng Đanh và chứng minh tính khả thi của công nghệ AAO trong xử lý đồng thời chất hữu cơ, nitơ và photpho với chi phí đầu tư, vận hành thấp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống cơ sở pháp lý, tính chất lý - hóa học của nước thải sinh hoạt (gồm nước thải đen chứa phân, nước tiểu giàu N, P; nước thải xám chứa xà phòng, chất tẩy rửa, dầu mỡ nhà bếp). Tác giả dẫn chứng số liệu thực trạng ô nhiễm nước đô thị tại Việt Nam từ Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2010). Đồng thời, tác giả tổng hợp nguyên lý các phương pháp cơ học (song chắn rác, bể lắng cát, bể lắng đợt 1 và đợt 2, tuyển nổi), phương pháp hóa học/hóa lý (trung hòa, keo tụ - tạo bông) và các công nghệ sinh học đang áp dụng tại Việt Nam (bể Biophin, Oxyten, SBR, Mương oxy hóa tuần hoàn MOT, hệ thống AAO tại Chung cư Screc, Khách sạn Majestic Vũng Tàu, Phú Mỹ Hưng, Trung tâm Hành chính Đà Lạt).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu (nước thải sinh hoạt và mô hình AAO), địa điểm (Ký túc xá K ĐH Nông Lâm) và thời gian thực hiện (01/2017 – 12/2017). Tác giả quy định các chỉ tiêu theo dõi vật lý (màu sắc, mùi), hóa học ($\text{pH}$, $\text{DO}$, $\text{COD}$, $\text{BOD}_5$, $\text{TSS}$, $\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_3^-$, $\text{PO}_4^{3-}$, $\text{T-N}$, $\text{T-P}$), sinh học (Coliform tổng số) và chuẩn hóa phương pháp lấy mẫu, phân tích theo hệ thống TCVN/SMEWW.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Tác giả trình bày các kết quả điều tra hiện trạng, tính toán cân bằng nước và phân tích thực nghiệm:

  • Hiện trạng cấp và thoát nước: Ký túc xá K gồm 16 dãy nhà 5 tầng (45 phòng/nhà) với 3.764 sinh viên và khu dịch vụ 10 người. Nguồn cấp từ Công ty Cấp nước Thái Nguyên với định mức $120\text{ lít/người/ngày}$ ($3,6\text{ m}^3/\text{người/tháng}$). Tổng lượng nước cấp sinh hoạt là $467\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($14.010\text{ m}^3/\text{tháng}$).
  • Lượng phát thải: Tổng lượng nước thải là $373,6\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($11.208\text{ m}^3/\text{tháng}$), trong đó nước thải đen chiếm $61,5\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($1.812\text{ m}^3/\text{tháng}$) và nước thải xám chiếm $313,1\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($9.396\text{ m}^3/\text{tháng}$). Tỷ lệ phát sinh thực tế giữa dòng đen và dòng xám xấp xỉ $1:5$.
  • Đánh giá chất lượng nước thải thô: Cả hai dòng thải đều ô nhiễm nặng, vượt xa giới hạn QCVN 14:2008/BTNMT Cột B:
    • Nước thải đen: $\text{BOD}_5$ đạt $152,8\text{ mg/l}$ (vượt hơn 3 lần); $\text{NH}_4^+$ đạt $124,3\text{ mg/l}$ (vượt 12,43 lần); $\text{NO}_3^-$ đạt $183,6\text{ mg/l}$ (vượt 3,67 lần); $\text{PO}_4^{3-}$ đạt $45,6\text{ mg/l}$ (vượt 4,56 lần); $\text{TSS}$ đạt $150\text{ mg/l}$ (vượt 1,5 lần); Coliform đạt $45.000\text{ MPN/100ml}$.
    • Nước thải xám: $\text{BOD}_5$ đạt $542,8\text{ mg/l}$ (vượt 10,85 lần so với mức 50 mg/l của QCVN); $\text{TSS}$ đạt $620\text{ mg/l}$ (vượt 6,2 lần); Dầu mỡ đạt $320\text{ mg/l}$ (vượt 16 lần); Chất hoạt động bề mặt đạt $58\text{ mg/l}$ (vượt 5,8 lần); $\text{NH}_4^+$ đạt $14,3\text{ mg/l}$; $\text{NO}_3^-$ đạt $83,6\text{ mg/l}$; $\text{PO}_4^{3-}$ đạt $18,5\text{ mg/l}$; Coliform đạt $17.000\text{ MPN/100ml}$.
  • Hiệu quả pha trộn dòng thải: Sau khi trộn hai dòng theo tỷ lệ $1:5$, nồng độ các chất ô nhiễm giảm nhẹ: $\text{TSS}$ giảm xuống $543,4\text{ mg/l}$; $\text{BOD}_5$ còn $479,2\text{ mg/l}$; $\text{NH}_4^+$ giảm còn $32,2\text{ mg/l}$; $\text{NO}_3^-$ giảm còn $99,9\text{ mg/l}$; $\text{PO}_4^{3-}$ còn $22,9\text{ mg/l}$; Dầu mỡ còn $268,0\text{ mg/l}$; Coliform đạt $22.000\text{ MPN/100ml}$; pH đạt 8,5.
  • Hiệu quả xử lý của mô hình AAO: Thử nghiệm chứng minh sau 5 ngày xử lý, toàn bộ các thông số ô nhiễm đều giảm sâu và đáp ứng quy chuẩn xả thải. Cảm quan nước chuyển từ màu đen xám, hôi thối sang trạng thái trong suốt, hoàn toàn không còn mùi.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tổng kết các kết quả định lượng về lưu lượng thải, đặc trưng thành phần ô nhiễm và hiệu suất xử lý của hệ thống AAO; đề xuất các giải pháp kỹ thuật thu gom, phối trộn và đầu tư trạm xử lý tập trung cho ký túc xá.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm định lượng về hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt của hệ thống công nghệ AAO sau các mốc thời gian 3 ngày và 5 ngày:

TT Thông số phân tích Đơn vị Nước thải sau trộn (Đầu vào) Sau 3 ngày xử lý Hiệu suất 3 ngày (%) Sau 5 ngày xử lý Hiệu suất 5 ngày (%) QCVN 14:2008 (Cột B)
1 pH - 8,5 8,2 - 7,9 - 5 – 9
2 TSS mg/l 543,4 126,8 76,7 86,8 84,0 100
3 TDS mg/l 1.746,8 1.080,0 38,2 780,0 55,3 1.000
4 $\text{BOD}_5$ mg/l 479,2 125,6 73,8 45,6 90,5 50
5 $\text{NH}_4^+$ mg/l 32,2 19,2 40,4 7,2 77,6 10
6 $\text{NO}_3^-$ mg/l 99,9 62,2 37,7 38,2 61,8 50
7 $\text{PO}_4^{3-}$ mg/l 22,9 11,9 48,0 7,9 65,5 10
8 Dầu mỡ mg/l 268,0 36,6 86,3 16,6 93,8 20
9 Chất hoạt động bề mặt mg/l 48,9 18,9 61,3 8,9 81,8 10
10 Tổng Coliform MPN/100ml 22.000 700 96,8 600 97,3 5.000

Biến đổi cảm quan: Nước thải sau 3 ngày xử lý bằng AAO chuyển sang màu xám sáng, mùi hôi giảm rõ rệt; sau 5 ngày nước đạt độ trong suốt và không còn mùi khó chịu (vượt trội hoàn toàn so với mẫu đối chứng xử lý tự nhiên vốn vẫn còn màu xám sáng và mùi hôi nhẹ).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  1. Nhà trường cần quy hoạch và xây dựng hệ thống thu gom tách biệt toàn bộ các nguồn xả thải tại khu ký túc xá K để tránh tình trạng xả trực tiếp ra suối Làng Đanh.
  2. Thực hiện phương án gom chung và phối trộn dòng nước thải đen (đã qua bể phốt) với dòng nước thải xám theo tỷ lệ thực tế $1:5$ trước khi dẫn vào công trình xử lý thứ cấp nhằm giảm sốc tải lượng chất tẩy rửa và tạo điều kiện dinh dưỡng tối ưu cho vi sinh vật.
  3. Đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt quy mô thực tế áp dụng công nghệ AAO kết hợp khử trùng bằng Cloramin B để chất lượng nước đầu ra luôn đạt QCVN 14:2008/BTNMT Cột B.

Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ phát sinh dòng thải đen/xám thực tế ($1:5$) tại khu ký túc xá sinh viên đại học miền núi phía Bắc; chứng minh khả năng ứng dụng của quy trình AAO kết hợp giá thể vi sinh dính bám để xử lý triệt để đồng thời chất hữu cơ, hợp chất nitơ, photpho và dầu mỡ trong điều kiện nồng độ chất hoạt động bề mặt cao.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô mô hình phòng thí nghiệm thể tích nhỏ (40 lít), vận hành theo chu kỳ mẻ gián đoạn (thời gian lưu 3 ngày và 5 ngày), chưa khảo sát động học xử lý trong điều kiện dòng chảy liên tục và chưa đánh giá sự biến thiên tải lượng ô nhiễm theo các mùa trong năm hoặc các đợt cao điểm sinh hoạt của sinh viên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:
    1. Tiếp tục thử nghiệm khả năng xử lý của công nghệ AAO trên các đối tượng nước thải sinh hoạt và các loại nước thải công nghiệp khác.
    2. Mở rộng nghiên cứu vận hành hệ thống AAO trong điều kiện dòng chảy liên tục với các dải biến thiên lưu lượng và tải trọng ô nhiễm khác nhau nhằm cung cấp thông số thiết kế hoàn chỉnh cho các công trình xử lý quy mô thực tế.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ kỹ thuật thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Cấp thoát nước:

  • Số liệu đặc trưng nguồn thải: Cung cấp định mức sử dụng nước ($120\text{ l/người/ngày}$), hệ số phát thải, tỷ lệ lưu lượng và nồng độ ô nhiễm chi tiết của từng dòng thải đen và xám tại khu ký túc xá đại học tập trung.
  • Thiết kế mô hình và quy trình thực nghiệm: Cung cấp thông số cấu tạo mô hình AAO phòng thí nghiệm, phương pháp tính toán pha trộn dòng thải, vận hành sục khí, sử dụng giá thể vi sinh dính bám và quy trình phân tích các chỉ tiêu theo các tiêu chuẩn TCVN, SMEWW.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại Ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm là bao nhiêu và phân chia theo các dòng thải như thế nào?
Tổng lượng nước thải phát sinh là $373,6\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($11.208\text{ m}^3/\text{tháng}$), được tính bằng 80% lượng nước cấp sinh hoạt của 3.764 sinh viên và 10 cán bộ dịch vụ. Trong đó, nước thải đen chiếm $61,5\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($1.812\text{ m}^3/\text{tháng}$) và nước thải xám chiếm $313,1\text{ m}^3/\text{ngày}$ ($9.396\text{ m}^3/\text{tháng}$).

2. Tại sao tác giả phải phối trộn dòng nước thải đen và dòng nước thải xám theo tỷ lệ 1:5 trước khi nạp vào mô hình AAO?
Nước thải đen chứa nhiều vi sinh vật, đạm, lân và chất hữu cơ dễ tiêu nhưng nồng độ amoni và nitrat quá cao; trong khi nước thải xám chứa nhiều dầu mỡ, chất rắn lơ lửng và chất tẩy rửa (xà phòng, dầu gội). Việc phối trộn theo tỷ lệ thực tế $1:5$ giúp làm loãng nồng độ chất tẩy rửa độc hại, cân đối thành phần dinh dưỡng và tăng cường khả năng phân hủy sinh học của hệ vi sinh vật trong hệ thống.

3. Mô hình thực nghiệm AAO trong nghiên cứu được cấu tạo với các thông số kỹ thuật nào?
Mô hình gồm một bể kính 40 lít chia làm 3 ngăn (ngăn kỵ khí 20 lít, hai ngăn sục khí thiếu khí và hiếu khí mỗi ngăn 10 lít); giá thể nhựa hình trụ $1,5 \times 2,0\text{ cm}$ đặt trong các ngăn sục khí; máy sục khí công suất $0,1 - 0,5\text{ l/s}$; 2 máy bơm tuần hoàn $0,01\text{ l/s}$; bể lắng bùn thủy tinh 15 lít và khay nhựa chứa chất khử trùng viên Cloramin B.

4. Sau 5 ngày xử lý qua hệ thống AAO, các chỉ tiêu ô nhiễm chính đạt hiệu suất xử lý bao nhiêu và có đáp ứng quy chuẩn không?
Sau 5 ngày xử lý, hiệu suất đạt: $\text{BOD}_5$ đạt $90,5%$ (còn $45,6\text{ mg/l}$); $\text{TSS}$ đạt $84,0%$ (còn $86,8\text{ mg/l}$); $\text{NH}_4^+$ đạt $77,6%$ (còn $7,2\text{ mg/l}$); $\text{NO}_3^-$ đạt $61,8%$ (còn $38,2\text{ mg/l}$); $\text{PO}_4^{3-}$ đạt $65,5%$ (còn $7,9\text{ mg/l}$); Dầu mỡ đạt $93,8%$ (còn $16,6\text{ mg/l}$); Coliform đạt $97,3%$ (còn $600\text{ MPN/100ml}$). Tất cả các chỉ tiêu phân tích đều đạt giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT (Cột B).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đỗ Duy Long đã phản ánh chi tiết hiện trạng phát sinh và đặc tính ô nhiễm của nguồn nước thải sinh hoạt tại khu ký túc xá K Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tổng lưu lượng xả thải $373,6\text{ m}^3/\text{ngày}$. Nghiên cứu đã chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng giải pháp phối trộn dòng thải đen và dòng thải xám theo tỷ lệ $1:5$ kết hợp xử lý qua mô hình công nghệ sinh học AAO và khử trùng bằng Cloramin B trong thời gian 5 ngày giúp loại bỏ từ $61,8%$ đến $97,3%$ các chất ô nhiễm. Toàn bộ các thông số hóa - lý, dinh dưỡng và vi sinh đầu ra đều đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2008/BTNMT Cột B, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn tin cậy cho việc đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại cơ sở.