Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường nước mặt do nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý đang là một trong những thách thức môi trường cấp bách tại Việt Nam. Nước thải sinh hoạt chứa hàm lượng lớn chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, chất rắn lơ lửng, các hợp chất dinh dưỡng nitơ, phospho và vi sinh vật gây bệnh, làm suy giảm lượng oxy hòa tan và dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn tiếp nhận.
Tại Đại học Thái Nguyên, khu ký túc xá K (nằm trong khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) có quy mô xây dựng gồm 16 dãy nhà 5 tầng (mỗi dãy 45 phòng) với diện tích sàn 18.375 m², là nơi lưu trú của khoảng 4.200 sinh viên nội trú. Tổng lượng nước tiêu thụ tại khu ký túc xá khoảng 10.000 m³/tháng, phát sinh lưu lượng nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 8.000 m³/tháng (tương đương 80.000 m³/năm học 10 tháng). Toàn bộ lượng nước thải này xả trực tiếp ra suối Nông Lâm mà chưa qua hệ thống xử lý hoàn chỉnh, gây ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng. Trong khi đó, các công nghệ xử lý cơ - hóa - sinh truyền thống đòi hỏi chi phí đầu tư, vận hành cao và yêu cầu kỹ thuật phức tạp, khó áp dụng rộng rãi cho khu ký túc xá. Do đó, việc ứng dụng công nghệ sinh thái đất ngập nước nhân tạo dòng chảy ngầm với thảm thực vật thủy sinh sẵn có là giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Kiểm tra các thành phần ô nhiễm có trong nước thải sinh hoạt khu ký túc xá K trước khi xử lý, sau đó sử dụng mô hình thí nghiệm để kiểm tra khả năng xử lý nước thải của mô hình đất ngập nước.
- Đề xuất ứng dụng quy trình công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt bằng đất ngập nước đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam (QCVN 14:2008/BTNMT).
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
- Dựa vào tài liệu sẵn có để tìm hiểu về thuộc tính xử lý nước thải của mô hình đất ngập nước.
- Đưa ra các nhận định ban đầu về thực trạng nước thải khu ký túc xá K.
- Tiến hành kiểm tra chất lượng nước trước khi xử lý, sử dụng mô hình thí nghiệm để kiểm tra khả năng xử lý của hệ thống.
- Kiểm chứng hiệu quả xử lý đối với các thông số: pH, BOD₅, COD, TSS, NO₃⁻, Phospho tổng số (P-t) theo các khoảng thời gian lưu nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nước thải sinh hoạt tại khu ký túc xá K - Đại học Thái Nguyên và mô hình đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm theo chiều đứng kết hợp 2 loài thực vật thủy sinh: Cây Chuối hoa (Canna generalis Bailey) và cây rau Dừa nước (Ludwigia adscendens).
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt của mô hình đất ngập nước trồng cây Chuối hoa và rau Dừa nước tại khu ký túc xá K - Đại học Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.
Ý nghĩa đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về khả năng hấp phụ, chuyển hóa chất ô nhiễm của các loài thực vật thủy sinh bản địa trong mô hình bãi lọc ngầm nhân tạo dòng chảy thẳng đứng; làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng công nghệ sinh thái xử lý nước thải sinh hoạt phân tán.
- Ý nghĩa môi trường: Đưa chất lượng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT, giảm thiểu tải lượng ô nhiễm xả ra suối Nông Lâm và nguồn tiếp nhận.
- Ý nghĩa kinh tế: Đề xuất mô hình xử lý có chi phí đầu tư xây dựng, vật liệu lọc và vận hành thấp hơn đáng kể so với các trạm xử lý nước thải cơ giới tập trung.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học sinh thái kết hợp bãi lọc ngầm nhân tạo (Constructed Wetland). Theo Công ước Ramsar, đất ngập nước có khả năng tự làm sạch thông qua các tác động tổng hợp: lắng cơ học qua tầng giá thể lọc (cát, sỏi), hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng (N, P) của hệ rễ thực vật, cùng quá trình phân giải sinh hóa các hợp chất hữu cơ (BOD₅, COD) bởi màng vi sinh vật bám dính (biofilm) trên bề mặt giá thể và rễ cây.
Hệ thống căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005.
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 26/12/2012.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP và Nghị định số 26/2010/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Thông tư số 09/2009/TT-BXD về thoát nước đô thị và khu công nghiệp.
- QCVN 14:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (áp dụng đối chiếu Mức A và Mức B).
- QCVN 01:2009/BYT và QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt.
Thiết kế mô hình thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm bán tự nhiên với mô hình đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm theo chiều đứng (Vertical Subsurface Flow Constructed Wetland):
- Cấu trúc bồn lọc: Bồn làm bằng thùng nhựa dẻo, kích thước đường kính 35 cm, chiều cao 55 cm, đặt ngoài trời có mái che khi mưa.
- Cấu trúc các lớp vật liệu lọc (từ dưới lên trên):
- Lớp 1 (đáy): Sỏi to dày 15 cm, đường kính hạt 30–60 mm.
- Lớp 2: Sỏi nhỏ dày 10 cm, đường kính hạt 12 mm.
- Lớp 3: Cát thô dày 15 cm, đường kính hạt 6 mm.
- Lớp 4 (bề mặt): Cát mịn dày 8 cm.
- Bố trí công thức thí nghiệm: Thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 công thức, nhắc lại 3 lần:
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Nước tự xử lý trong mô hình bãi lọc không trồng thực vật.
- Công thức 2 (CT2): Mô hình đất ngập nước trồng cây rau Dừa nước (Ludwigia adscendens), trồng theo từng khóm phân bố đều.
- Công thức 3 (CT3): Mô hình đất ngập nước trồng cây Chuối hoa (Canna generalis Bailey), mật độ 4 cây/thùng.
- Nguồn cây thực vật: Thu thập tại vùng đất ngập nước và khu vực ao cá Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Chế độ cấp nước và lấy mẫu: Nước thải sinh hoạt được tưới vào mô hình với mực nước cao hơn bề mặt 2 cm. Mẫu nước đầu ra được thu thập tại van đáy mô hình vào khung giờ 7h00–8h00 sáng ở các mốc thời gian lưu nước: 3 ngày, 6 ngày và 8 ngày (thể tích lấy 0,5 lít/mẫu).
Nước thải đầu vào (ngập +2 cm trên bề mặt)
Van xả đáy (Lấy mẫu phân tích 3, 6, 8 ngày)
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Mẫu nước được thu thập theo tiêu chuẩn TCVN 5995-1995 và phân tích các thông số ô nhiễm chính theo các tiêu chuẩn quốc gia:
- pH: TCVN 6492-1999 (ISO 10523-1994).
- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅): TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989).
- Nhu cầu oxy hóa học (COD): TCVN 6491:1999.
- Hàm lượng Nitrat (N-NO₃⁻): TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988).
- Phospho tổng số (P-t / Photphat): TCVN 6202:2008.
- Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): TCVN 6053–1995 (ISO 9696-1992).
Hiệu suất xử lý ($H$) của từng chỉ tiêu được tính bằng phần mềm Microsoft Excel theo công thức:
$$H (%) = \frac{C_{\text{vào}} - C_{\text{ra}}}{C_{\text{vào}}} \times 100$$
Trong đó: $C_{\text{vào}}$ là nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải ban đầu; $C_{\text{ra}}$ là nồng độ chất ô nhiễm sau thời gian xử lý.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của vấn đề khan hiếm và ô nhiễm nguồn nước ngọt trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Phân tích thực trạng gia tăng sinh viên tại ký túc xá K - Đại học Thái Nguyên dẫn đến phát sinh lượng lớn nước thải sinh hoạt xả thẳng ra suối Nông Lâm. Khái quát mục tiêu xác định đặc tính nước thải, thử nghiệm mô hình đất ngập nước xử lý bằng cây Chuối hoa và rau Dừa nước, làm rõ ý nghĩa khoa học, môi trường và hiệu quả kinh tế của mô hình sinh thái phân tán chi phí thấp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở khoa học về ô nhiễm nước sinh hoạt, phân loại nước đen (chứa phân, nước tiểu, tải lượng ô nhiễm hữu cơ và vi sinh cao) và nước xám (nước tắm giặt, rửa). Trình bày bản chất các thông số đánh giá chất lượng nước (pH, DO, TSS, BOD₅, COD, N-t, P-t, vi sinh vật chỉ thị E. coli). Tổng hợp các hệ thống văn bản pháp lý về môi trường của Việt Nam. Đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp xử lý cơ học, hóa học, hóa lý và sinh học; phân tích cơ chế xử lý của hệ thống đất ngập nước nhân tạo và đặc tính sinh học của hai loài thực vật thí nghiệm: cây Chuối hoa (Canna generalis Bailey) và cây rau Dừa nước (Ludwigia adscendens).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu (nước thải sinh hoạt KTX K và 2 loài thực vật thủy sinh), địa bàn nghiên cứu (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và thời gian thực hiện (tháng 01/2014 – 04/2014). Trình bày chi tiết thông số kích thước bồn nhựa, tỷ lệ phối trộn 4 tầng vật liệu lọc (sỏi to, sỏi nhỏ, cát thô, cát mịn), quy cách bố trí 3 công thức thí nghiệm (đối chứng, rau Dừa nước, Chuối hoa) nhắc lại 3 lần. Liệt kê quy trình kỹ thuật lấy mẫu theo TCVN 5995-1995 và 6 phương pháp phân tích phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn TCVN/ISO.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
- Hiện trạng nước thải ký túc xá K: Thống kê quy mô 16 dãy nhà (K1–K16) với 4.200 sinh viên, tổng lượng nước cấp 10.000 m³/tháng và lượng nước thải phát sinh 8.000 m³/tháng. Kết quả phân tích chất lượng nước thải đầu vào cho thấy ô nhiễm nghiêm trọng: BOD₅ vượt 8,2 lần, TSS vượt gần 4 lần, Nitrat vượt 3,5 lần so với QCVN 14:2008/BTNMT Cột A.
- Đánh giá hiệu quả xử lý theo thời gian (3, 6, 8 ngày): Hiệu suất xử lý tăng dần theo thời gian lưu nước. Sau 3 ngày, hiệu suất đạt từ 32,67% đến 46,72% (chưa đạt chuẩn xả thải). Sau 6 ngày, hiệu suất đạt từ 64,26% đến 72,95% (thông số Nitrat đạt chuẩn Cột A). Sau 8 ngày, hiệu suất đạt từ 81,02% đến 90,47%, đưa toàn bộ các chỉ tiêu về dưới ngưỡng cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT Cột A.
- Đánh giá hiệu quả xử lý theo loài cây: Cả hai loài cây đều cho hiệu quả xử lý vượt trội so với công thức đối chứng không trồng cây. Trong đó, mô hình trồng cây Chuối hoa đạt hiệu suất nhỉnh hơn so với rau Dừa nước ở tất cả các chỉ tiêu sau 8 ngày lưu nước.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp các kết luận khoa học khẳng định tính khả thi của mô hình đất ngập nước trồng Chuối hoa và rau Dừa nước trong xử lý nước thải sinh hoạt với thời gian lưu nước tối ưu là 8 ngày. Kiến nghị ứng dụng mô hình tại khu ký túc xá K và nhân rộng cho các khu dân cư tập trung có điều kiện tương tự.
Kết quả và đóng góp
Số liệu hiện trạng ô nhiễm nước thải đầu vào tại KTX K
Kết quả phân tích mẫu nước thải sinh hoạt ban đầu tại khu ký túc xá K Đại học Thái Nguyên:
| TT |
Thông số ô nhiễm |
Đơn vị |
Nồng độ đầu vào |
QCVN 14:2008/BTNMT (Cột A) |
Mức độ vượt chuẩn Cột A |
| 1 |
pH |
- |
7,09 |
5–9 |
Đạt chuẩn |
| 2 |
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
189,6 |
50 |
Vượt 3,79 lần |
| 3 |
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅) |
mg/l |
246,4 |
30 |
Vượt 8,21 lần |
| 4 |
Nhu cầu oxy hóa học (COD) |
mg/l |
308,0 |
- |
- |
| 5 |
Nitrat (N-NO₃⁻) |
mg/l |
106,24 |
30 |
Vượt 3,54 lần |
| 6 |
Phospho tổng số (P-t) |
mg/l |
13,57 |
- |
- |
Diễn biến chất lượng nước và hiệu suất xử lý qua các mốc thời gian
| Chỉ tiêu |
Đối chứng (CT1) |
Chuối hoa (CT3) |
Rau Dừa nước (CT2) |
QCVN 14:2008 (Cột A) |
| Sau 3 ngày xử lý |
|
|
|
|
| TSS (mg/l) [%] |
163,2 [13,92%] |
120,38 [36,50%] |
116,2 [38,71%] |
50 |
| BOD₅ (mg/l) [%] |
227,2 [7,79%] |
161,6 [34,41%] |
153,1 [37,86%] |
30 |
| COD (mg/l) [%] |
284,0 [7,80%] |
202,0 [34,42%] |
184,0 [37,87%] |
- |
| Nitrat (mg/l) [%] |
100,72 [5,20%] |
71,19 [33,00%] |
71,53 [32,67%] |
30 |
| Phospho tổng (mg/l) [%] |
12,68 [6,56%] |
8,02 [40,90%] |
7,23 [46,72%] |
- |
| Sau 6 ngày xử lý |
|
|
|
|
| TSS (mg/l) [%] |
147,5 [22,20%] |
54,08 [71,47%] |
54,43 [71,13%] |
50 |
| BOD₅ (mg/l) [%] |
207,2 [15,91%] |
70,9 [71,22%] |
77,8 [68,42%] |
30 |
| COD (mg/l) [%] |
259,0 [15,92%] |
88,6 [71,23%] |
97,3 [68,43%] |
- |
| Nitrat (mg/l) [%] |
98,46 [7,32%] |
29,84 [71,91%] |
32,17 [69,72%] |
30 |
| Phospho tổng (mg/l) [%] |
12,03 [12,25%] |
3,67 [72,95%] |
4,85 [64,26%] |
- |
| Sau 8 ngày xử lý |
|
|
|
|
| TSS (mg/l) [%] |
124,4 [34,39%] |
18,07 [90,47%] |
19,54 [89,69%] |
50 |
| BOD₅ (mg/l) [%] |
164,0 [33,44%] |
24,8 [89,93%] |
29,8 [87,90%] |
30 |
| COD (mg/l) [%] |
205,0 [33,45%] |
31,0 [89,94%] |
38,3 [87,91%] |
- |
| Nitrat (mg/l) [%] |
90,17 [15,12%] |
18,85 [82,25%] |
20,16 [81,02%] |
30 |
| Phospho tổng (mg/l) [%] |
11,36 [16,28%] |
1,53 [88,72%] |
1,89 [86,07%] |
- |
Ghi chú: Giá trị in đậm thể hiện nồng độ đạt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT Cột A.
Đánh giá so sánh và kết quả chính
- Hiệu quả xử lý của các tầng vật liệu lọc và thực vật:
- Ở công thức đối chứng (chỉ có vật liệu lọc cát sỏi, không có cây), sau 8 ngày hiệu suất khử các chất ô nhiễm chỉ đạt từ 15,12% đến 34,39%, nước thải sau lọc vẫn không đạt tiêu chuẩn xả thải (BOD₅ còn 164 mg/l, COD còn 205 mg/l, TSS còn 124,4 mg/l).
- Ở các công thức có trồng thực vật, sự phát triển của bộ rễ kết hợp với màng sinh học và vật liệu lọc đã làm tăng mạnh hiệu quả làm sạch. Sau 8 ngày, cả 2 mô hình trồng cây đều loại bỏ từ 81,02% đến 90,47% lượng chất ô nhiễm.
- So sánh cây Chuối hoa và cây rau Dừa nước:
- Trong 3 ngày đầu, cây rau Dừa nước thích nghi nhanh hơn, cho hiệu suất xử lý BOD₅ (37,86%), COD (37,87%), TSS (38,71%) và P-t (46,72%) cao hơn cây Chuối hoa.
- Tuy nhiên, từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 8, khi bộ rễ Chuối hoa phát triển ổn định và sinh khối rễ lớn, cây Chuối hoa vượt lên cho hiệu suất xử lý cao hơn ở toàn bộ các chỉ tiêu: TSS đạt 90,47% (còn 18,07 mg/l); BOD₅ đạt 89,93% (còn 24,8 mg/l); COD đạt 89,94% (còn 31,0 mg/l); Nitrat đạt 82,25% (còn 18,85 mg/l); Phospho tổng đạt 88,72% (còn 1,53 mg/l).
- Đóng góp của nghiên cứu:
- Xác lập bộ thông số thực nghiệm đầy đủ về tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại KTX K Đại học Thái Nguyên.
- Chứng minh tính hiệu quả của mô hình bãi lọc ngầm dòng chảy đứng kết hợp cây Chuối hoa và rau Dừa nước trong việc khử đồng thời chất hữu cơ (BOD, COD), chất rắn lơ lửng (TSS) và các chất dinh dưỡng (N, P).
- Xác định được ngưỡng thời gian lưu nước tối ưu (8 ngày) để đưa toàn bộ các chỉ tiêu ô nhiễm về dưới giới hạn xả thải nghiêm ngặt của QCVN 14:2008/BTNMT Cột A.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Quy mô thí nghiệm: Thí nghiệm mới dừng lại ở quy mô mô hình pilot bán tự nhiên trong thùng nhựa (đường kính 35 cm, chiều cao 55 cm), chưa triển khai xây dựng bãi lọc đất ngập nước ngoài thực địa với lưu lượng nước thải thực tế lớn (8.000 m³/tháng).
- Thời gian và mùa vụ: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 4 tháng (tháng 01/2014 đến tháng 04/2014), chưa đánh giá được ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết, nhiệt độ các mùa khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa hè và mùa đông miền Bắc) tới khả năng sinh trưởng và hiệu suất xử lý của thực vật.
- Chỉ tiêu vi sinh thực nghiệm: Khóa luận đã trình bày cơ sở lý thuyết về vi sinh vật (E. coli, Coliform) nhưng trong phần thực nghiệm chưa tiến hành phân tích định lượng vi sinh vật đầu vào và đầu ra do giới hạn điều kiện phòng thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thử nghiệm mô hình đất ngập nước kiến tạo quy mô lớn tại hiện trường suối Nông Lâm hoặc khuôn viên KTX K.
- Nghiên cứu kết hợp đa dạng các loài thực vật thủy sinh bản địa khác nhau trong cùng một hệ thống lọc để tối ưu hóa khả năng hấp thụ đa chất ô nhiễm.
- Theo dõi định kỳ sự tích lũy chất ô nhiễm trong sinh khối thực vật, xác định chu kỳ cắt tỉa, thu hoạch sinh khối và tái tạo lớp vật liệu lọc để duy trì tuổi thọ công trình.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng và nội dung sau:
- Sinh viên và học viên ngành Môi trường: Tài liệu tham khảo thực tế cho các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước và Sinh thái Ứng dụng trong việc thiết kế đồ án, khóa luận về xử lý nước thải bằng công nghệ sinh thái.
- Cán bộ quản lý hạ tầng ký túc xá và khu dân cư: Tham khảo số liệu tính toán tải lượng nước cấp (10.000 m³/tháng) và định mức phát sinh nước thải sinh hoạt (80% lượng nước cấp cho 4.200 người) để lập quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải phân tán.
- Kỹ sư thiết kế công trình sinh thái: Cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết về cấu trúc phân tầng vật liệu lọc (sỏi 30–60 mm, sỏi 12 mm, cát thô 6 mm, cát mịn) và tỷ lệ lưu nước phù hợp cho mô hình bãi lọc ngầm dòng chảy thẳng đứng.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn nước thải được sử dụng trong nghiên cứu phát sinh từ đâu và có quy mô lưu lượng như thế nào?
Nước thải nghiên cứu là nước thải sinh hoạt phát sinh từ 16 dãy nhà 5 tầng (K1 đến K16) của khu ký túc xá K - Đại học Thái Nguyên, phục vụ khoảng 4.200 sinh viên nội trú. Tổng lượng nước cấp sinh hoạt là 10.000 m³/tháng, lượng nước thải phát sinh tính bằng 80% lượng nước tiêu thụ, đạt 8.000 m³/tháng (tương đương 80.000 m³/năm học 10 tháng).
2. Mô hình đất ngập nước trong thí nghiệm có cấu tạo các tầng vật liệu lọc như thế nào?
Mô hình được thiết lập trong thùng nhựa dẻo (đường kính 35 cm, chiều cao 55 cm) theo kiểu dòng chảy ngầm thẳng đứng, gồm 4 lớp vật liệu từ dưới lên trên:
- Lớp 1 (đáy): Sỏi to dày 15 cm, đường kính hạt 30–60 mm.
- Lớp 2: Sỏi nhỏ dày 10 cm, đường kính hạt 12 mm.
- Lớp 3: Cát thô dày 15 cm, đường kính hạt 6 mm.
- Lớp 4 (bề mặt): Cát mịn dày 8 cm.
3. Thời gian lưu nước bao nhiêu ngày thì chất lượng nước thải đạt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT Cột A?
Sau 8 ngày lưu nước trong mô hình đất ngập nước có trồng thực vật, toàn bộ các chỉ tiêu ô nhiễm (TSS, BOD₅, Nitrat) đều giảm về dưới ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 14:2008/BTNMT Cột A. Ở mốc 3 ngày và 6 ngày, một số chỉ tiêu (như BOD₅, COD) vẫn chưa đạt chuẩn xả thải.
4. Khả năng làm sạch nước thải của cây Chuối hoa và cây rau Dừa nước khác nhau như thế nào?
Trong 3 ngày đầu, cây rau Dừa nước cho hiệu suất xử lý ban đầu cao hơn nhờ khả năng thích nghi nhanh. Tuy nhiên, sau 8 ngày, cây Chuối hoa đạt hiệu suất làm sạch cao hơn ở mọi chỉ tiêu: BOD₅ giảm 89,93% (còn 24,8 mg/l), COD giảm 89,94% (còn 31,0 mg/l), TSS giảm 90,47% (còn 18,07 mg/l), Nitrat giảm 82,25% (còn 18,85 mg/l) và Phospho tổng giảm 88,72% (còn 1,53 mg/l).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Loan đã đánh giá chi tiết thực trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại khu ký túc xá K Đại học Thái Nguyên với các thông số BOD₅, TSS và Nitrat vượt quy chuẩn cho phép từ 3,5 đến 8,2 lần. Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh mô hình đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm thẳng đứng kết hợp cây Chuối hoa (Canna generalis Bailey) và rau Dừa nước (Ludwigia adscendens) có khả năng xử lý triệt để các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Sau 8 ngày lưu nước, hiệu suất xử lý đạt từ 81,02% đến 90,47%, đưa toàn bộ nước thải sinh hoạt về đạt tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 14:2008/BTNMT Cột A. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để triển khai công nghệ sinh thái xử lý nước thải phân tán chi phí thấp, thân thiện với môi trường tại các khu ký túc xá và khu dân cư tập trung.