Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nguồn tài nguyên nước ngọt trên Trái Đất chiếm khoảng 2,6% tổng trữ lượng nước toàn cầu, nhưng trong đó chỉ có 0,3% (tương đương 3,6 triệu km³) là nguồn nước có thể khai thác trực tiếp phục vụ sinh hoạt. Tại Việt Nam, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng sự gia tăng dân số đã gây áp lực lớn lên tài nguyên nước. Phần lớn nước thải sinh hoạt tại các đô thị và khu tập trung chưa được thu gom, xử lý triệt để mà xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận tự nhiên như sông ngòi, kênh rạch, hồ chứa.
Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên là cơ sở đào tạo có diện tích lớn, trong khuôn viên có khu nội trú Ký túc xá K phục vụ sinh viên của nhiều đơn vị thành viên trực thuộc Đại học Thái Nguyên (bao gồm Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Khoa học và Khoa Ngoại ngữ). Khu ký túc xá gồm 16 dãy nhà 5 tầng với quy mô lưu trú trên 3.000 sinh viên. Nước thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động vệ sinh cá nhân, tắm giặt, sinh hoạt hàng ngày mang tải lượng ô nhiễm hữu cơ và chất dinh dưỡng cao (đặc trưng bởi các chỉ số BOD₅, COD, Nitơ, Photpho, TSS và vi sinh vật). Dù đã qua hệ thống xử lý sơ bộ bằng hầm biogas, chất lượng nước thải đầu ra vẫn chưa đáp ứng quy chuẩn xả thải, tiềm ẩn nguy cơ gây suy thoái các thủy vực tiếp nhận xung quanh khu vực trường.
Trước thực trạng đó, tác giả Phạm Thị Hương Lan đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt kí túc xá K – Đại học Thái Nguyên bằng phương pháp lọc sinh học tuần hoàn”.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm 5 nội dung chính:
- Đánh giá hiện trạng và mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt tại khu Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên.
- Xây dựng mô hình lọc sinh học tuần hoàn quy mô thực nghiệm sử dụng vật liệu lọc nổi.
- Đánh giá khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của mô hình lọc sinh học tuần hoàn theo các mốc thời gian lưu nước khác nhau.
- Đề xuất phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt có tính khả thi, hiệu quả, dễ vận hành và chi phí thấp.
- Góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ sinh học phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Lắp đặt hoàn chỉnh mô hình thí nghiệm xử lý nước thải sinh hoạt bằng phương pháp lọc sinh học tuần hoàn.
- Lấy mẫu và phân tích hàm lượng các chỉ tiêu ô nhiễm đặc trưng: BOD₅, COD, T-N, T-P, TSS trong nước thải đầu vào và nước thải sau xử lý qua hệ thống.
- So sánh, đánh giá kết quả phân tích chất lượng nước trước và sau xử lý nhằm xác định hiệu suất xử lý của mô hình.
- Đánh giá hiệu suất xử lý tương ứng với các khoảng thời gian lưu nước khác nhau để tìm ra thông số vận hành thích hợp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình xử lý nước thải sinh hoạt quy mô thực nghiệm hoạt động theo công nghệ lọc sinh học tuần hoàn với giá thể nổi.
- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn nước thải sinh hoạt thực tế phát sinh tại Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên.
- Không gian thực hiện: Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 9 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên bản chất sinh hóa của quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học kết hợp hiếu khí và yếm khí. Nước thải sinh hoạt có đặc tính giàu chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (thể hiện qua tỷ số BOD/COD ≥ 0,5), thích hợp cho quần thể vi sinh vật dị dưỡng sử dụng làm nguồn dinh dưỡng carbon và năng lượng để tổng hợp sinh khối mới. Quá trình phân hủy hiếu khí diễn ra theo phương trình oxy hóa sinh hóa tổng quát:
$$\text{C}_x\text{H}_y\text{O}_z\text{N} + \left(x + \frac{y}{4} - \frac{z}{2} - \frac{3}{4}\right)\text{O}_2 \rightarrow x\text{CO}_2 + \left(\frac{y}{2} - \frac{3}{2}\right)\text{H}_2\text{O} + \text{NH}_3 + E$$
$$\text{C}_x\text{H}_y\text{O}_z\text{N} + \text{NH}_3 + \text{O}_2 \rightarrow \text{C}_5\text{H}_7\text{NO}_2 + \text{CO}_2 + E$$
Đồng thời, quá trình phân hủy kỵ khí diễn ra qua 4 giai đoạn nối tiếp: thủy phân cắt mạch các hợp chất cao phân tử, acid hóa, acetate hóa và methane hóa, chuyển hóa cơ chất hữu cơ thành các sản phẩm khí $\text{CH}_4$, $\text{CO}_2$, $\text{H}_2$, $\text{NH}_3$, $\text{H}_2\text{S}$ và tế bào vi sinh vật mới. Cơ chế màng vi sinh vật (biofilm) hình thành trên bề mặt hạt vật liệu xốp tạo nên cấu trúc hai lớp: lớp yếm khí nằm sát bề mặt vật liệu lọc và lớp hiếu khí nằm phía ngoài tiếp xúc với dòng nước và oxy hòa tan.
Khung pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật được tác giả viện dẫn để đối chiếu bao gồm:
- Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
- Nghị định 34/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải.
- QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (Cột B: áp dụng khi xả vào nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt).
- QCVN 24:2009/BTNMT (nước thải công nghiệp), QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 02:2009/BYT và Quyết định 09/2005/QĐ-BYT (chất lượng nước sinh hoạt và nước sạch).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế chi tiết:
- Cấu tạo mô hình: Thân bể lọc hình trụ chế tạo từ ống nhựa PVC Tiền Phong D110, vận hành theo cơ chế dòng chảy ngược từ dưới lên (upflow). Đỉnh cột bố trí đường thoát khí gas ($\text{CH}_4, \text{CO}_2, \text{H}_2\text{S}$...), cửa thu nước sau xử lý và đáy cột bố trí van xả bùn cặn tích lũy.
- Vật liệu lọc nổi: Hạt Xifo dạng hình cầu màu trắng, tỷ trọng nhẹ hơn nước. Kích thước hạt từ 2–3 mm (diện tích tiếp xúc bề mặt đạt $1.150\text{ m}^2/\text{m}^3$) hoặc 3–5 mm (diện tích tiếp xúc $600\text{ m}^2/\text{m}^3$). Lớp vật liệu lọc nổi tạo trở lực thủy lực giữ lại các hạt huyền phù hữu cơ và cung cấp giá thể bám dính cho màng vi sinh vật.
- Giai đoạn khởi động mô hình: Hệ thống được cấp nước thải thực tế từ Ký túc xá K và bổ sung chế phẩm vi sinh hữu hiệu EM2 nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tạo màng sinh học và nhân sinh khối vi sinh vật yếm khí có lợi. Sau khi hệ thống vận hành ổn định, toàn bộ nước thải khởi động được xả bỏ để bắt đầu chu kỳ thí nghiệm chính thức.
- Bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 công thức thời gian lưu nước (HRT): 10 giờ, 24 giờ và 48 giờ. Mỗi công thức thí nghiệm được vận hành liên tục trong thời gian một tháng.
Phương pháp lấy mẫu và phân tích chất lượng nước:
- Phương pháp lấy mẫu: Thực hiện theo TCVN 5995-1995 đối với mẫu nước thải sinh hoạt đầu vào và mẫu nước đầu ra tại cửa xả của mô hình tương ứng sau 10h, 24h và 48h.
- Thiết bị đo tại hiện trường: Máy đo đa chỉ tiêu Hanna HI 9828 dùng để kiểm tra các thông số pH, DO, độ dẫn điện EC, tổng chất rắn hòa tan TDS.
- Phân tích BOD₅: Phương pháp pha loãng và cấy bổ sung allylthiourea theo TCVN 6001-1:2008.
- Phân tích Tổng Nitơ (T-N): Phương pháp Kendan (Kjeldahl) theo TCVN 5987:1995.
- Phân tích Tổng Photpho (T-P): Phương pháp đo phổ theo TCVN 6202:2008.
- Phân tích Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Phương pháp khối lượng theo TCVN 6625:2000.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Văn bản khóa luận được cấu trúc thành 5 phần chuyên môn chính:
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự khan hiếm nguồn nước ngọt và thực trạng ô nhiễm do xả thải sinh hoạt chưa qua xử lý. Khu Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên có mật độ lưu trú tập trung với hơn 3.000 sinh viên, làm phát sinh lượng nước thải cao gấp nhiều lần so với các ký túc xá đơn lẻ khác. Khóa luận xác lập mục tiêu đánh giá hiện trạng ô nhiễm, chế tạo mô hình pilot lọc sinh học tuần hoàn dùng hạt Xifo, kiểm chứng hiệu quả phân hủy chất ô nhiễm qua các khoảng thời gian lưu nước và đề xuất giải pháp xử lý phân tán phù hợp với điều kiện Việt Nam. Phần này cũng nêu rõ ý nghĩa lý luận trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu môi trường và ý nghĩa thực tiễn cung cấp thông số kỹ thuật cho tính toán trạm xử lý nước thải tập trung.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp hệ thống cơ sở pháp lý về quản lý tài nguyên nước tại Việt Nam và cơ sở lý thuyết về thành phần nước thải sinh hoạt (phân loại thành nước đen từ nhà vệ sinh, nước xám từ tắm giặt, nước thải nhà bếp). Tác giả so sánh đặc tính thành phần nước thải sinh hoạt theo tài liệu Metcalf & Eddy (2003) và trình bày bản chất các quá trình xử lý sinh học (hiếu khí qua bể Aeroten, kỵ khí qua bể UASB, lọc sinh học, hồ sinh học, cánh đồng lọc). Về tình hình nghiên cứu, tác giả điểm qua hệ thống xử lý nước thải phân tán DEWATS của Hiệp hội BORDA (CHLB Đức), các công nghệ màng MBR pilot tại Nhà máy VIGLAFICO Láng Hòa Lạc (chương trình AsiaBioMem do EC tài trợ), mô hình xử lý nước hồ Kim Liên (Hà Nội, 2009–2010), cùng các nghiên cứu của Viện Công nghiệp Thực phẩm.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả quy định đối tượng, không gian, thời gian nghiên cứu (từ tháng 5/2014 đến tháng 9/2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và quy trình thực nghiệm. Cấu tạo cột lọc D110, cơ chế dòng chảy ngược, cấu trúc và diện tích bề mặt hạt Xifo (600–1.150 $\text{m}^2/\text{m}^3$), cùng vai trò của chế phẩm EM2 được thuyết minh cụ thể. Phần này mô tả chi tiết phương pháp bố trí 3 công thức thí nghiệm thời gian lưu nước (10h, 24h, 48h) và các tiêu chuẩn phân tích mẫu phòng thí nghiệm (TCVN 5995-1995, TCVN 6001-1:2008, TCVN 5987:1995, TCVN 6202:2008, TCVN 6625:2000).
Phần 4: Kết quả đạt được
Nội dung chương 4 tập trung vào hai mảng số liệu lớn:
- Hiện trạng phát sinh nước thải Ký túc xá K: Thống kê chi tiết lưu lượng nước tiêu thụ và lượng nước thải phát sinh (tính bằng 80% nước cấp sinh hoạt) của 16 dãy nhà (K1 đến K16). Toàn khu KTX có 16 dãy nhà 5 tầng (mỗi dãy 45 phòng, gồm 5 phòng sinh hoạt chung), thải ra lượng nước thải trung bình hàng tháng là $7.401\text{ m}^3/\text{tháng}$, tổng lưu lượng cả năm đạt $88.810\text{ m}^3/\text{năm}$.
- Hiệu quả xử lý của mô hình thực nghiệm: Đánh giá chi tiết sự suy giảm nồng độ các chất ô nhiễm (BOD₅, T-N, T-P, TSS, DO, pH) sau 10 giờ, 24 giờ và 48 giờ vận hành, đồng thời phân tích động học xử lý theo thời gian đối với từng thông số.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được về mặt định lượng, xác nhận nước thải KTX K đang xả thải vượt quy chuẩn dù đã qua hầm biogas. Khẳng định mô hình lọc sinh học tuần hoàn sử dụng hạt Xifo đạt hiệu suất làm sạch tối ưu ở thời gian lưu nước 48 giờ, giúp các chỉ tiêu phân tích đạt QCVN 14:2008/BTNMT (Cột B). Tác giả kiến nghị nhà trường sớm có biện pháp xử lý triệt để, đồng thời đề xuất mở rộng thử nghiệm với các vật liệu lọc khác, đo kiểm thêm các chỉ tiêu vi sinh (Coliform), chất hoạt động bề mặt và khảo sát thời gian lưu nước kéo dài hơn.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp chuỗi số liệu định lượng chi tiết về hiện trạng nước thải sinh hoạt tại Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên và hiệu suất làm sạch của mô hình lọc sinh học tuần hoàn dùng hạt lọc nổi Xifo.
Hiện trạng phát sinh nước thải tại 16 dãy nhà Ký túc xá K được tác giả tổng hợp cụ thể:
| STT |
Địa điểm |
Số sinh viên (người) |
Nước tiêu thụ trung bình ($\text{m}^3/\text{tháng}$) |
Nước thải phát sinh ($\text{m}^3/\text{tháng}$) |
Nước thải phát sinh ($\text{m}^3/\text{năm học}$) |
| 1 |
K1 |
274 |
730 |
584 |
5.840 |
| 2 |
K2 |
268 |
820 |
656 |
6.560 |
| 3 |
K3 |
205 |
598 |
478 |
4.780 |
| 4 |
K4 |
280 |
670 |
536 |
5.360 |
| 5 |
K5 |
285 |
491 |
393 |
3.930 |
| 6 |
K6 |
203 |
539 |
431 |
4.310 |
| 7 |
K7 |
276 |
884 |
707 |
7.070 |
| 8 |
K8 |
292 |
876 |
701 |
7.010 |
| 9 |
K9 |
288 |
1.196 |
957 |
9.570 |
| 10 |
K10 |
294 |
472 |
378 |
3.780 |
| 11 |
K11 |
217 |
550 |
440 |
4.400 |
| 12 |
K12 |
225 |
600 |
480 |
4.800 |
| 13 |
K13 |
286 |
602 |
482 |
4.820 |
| 14 |
K14 |
275 |
700 |
560 |
5.600 |
| 15 |
K15 |
276 |
720 |
576 |
5.760 |
| 16 |
K16 |
259 |
653 |
522 |
5.220 |
| Tổng |
16 dãy |
4.133 |
10.601 |
7.401 |
88.810 |
Phân tích chất lượng nước thải đầu vào cho thấy tính chất ô nhiễm nghiêm trọng: hàm lượng $\text{BOD}_5$ đạt $380,60\text{ mg/l}$ (vượt 3,8 lần ngưỡng giới hạn $100\text{ mg/l}$ của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B); tổng chất rắn lơ lửng TSS đạt $255\text{ mg/l}$ (vượt 2,55 lần quy chuẩn); Tổng Nitơ (T-N) đạt $40,30\text{ mg/l}$; Tổng Photpho (T-P) đạt $15,10\text{ mg/l}$; pH ở mức 7,30 và DO rất thấp đạt $0,50\text{ mg/l}$.
Kết quả vận hành thực nghiệm mô hình qua 3 khoảng thời gian lưu nước được tổng hợp và đối chiếu với quy chuẩn xả thải như sau:
| Thông số theo dõi |
Đơn vị |
Đầu vào |
Sau 10 giờ |
Hiệu suất 10h (%) |
Sau 24 giờ |
Hiệu suất 24h (%) |
Sau 48 giờ |
Hiệu suất 48h (%) |
QCVN 14:2008 Cột B |
| pH |
- |
7,30 |
7,23 |
- |
7,20 |
- |
6,78 |
- |
5 – 9 |
| $\text{BOD}_5$ |
mg/l |
380,60 |
180,60 |
52,50% |
90,60 |
76,20% |
48,60 |
87,23% |
100 |
| Tổng Nitơ (T-N) |
mg/l |
40,30 |
20,30 |
49,60% |
10,30 |
74,44% |
7,30 |
81,89% |
- |
| Tổng Photpho (T-P) |
mg/l |
15,10 |
9,10 |
39,70% |
6,10 |
59,60% |
4,10 |
72,85% |
- |
| TSS |
mg/l |
255,00 |
155,00 |
39,30% |
105,00 |
58,80% |
85,00 |
66,67% |
100 |
| DO |
mg/l |
0,50 |
0,55 |
- |
0,49 |
- |
0,40 |
- |
- |
Diễn biến xử lý theo thời gian cho thấy:
- Ở mốc 10 giờ: Tốc độ phân hủy diễn ra mạnh nhất nhờ lượng cơ chất dinh dưỡng dồi dào kích thích vi sinh vật phát triển, $\text{BOD}_5$ giảm $52,50%$, tuy nhiên nồng độ các chất vẫn vượt xa quy chuẩn xả thải.
- Ở mốc 24 giờ: Nồng độ $\text{BOD}_5$ giảm còn $90,60\text{ mg/l}$ (đạt quy chuẩn Cột B), T-N giảm $74,44%$, T-P giảm $59,60%$, TSS giảm xuống $105\text{ mg/l}$ (tiệm cận ngưỡng cho phép $100\text{ mg/l}$).
- Ở mốc 48 giờ: Mô hình đạt hiệu quả cao nhất với $\text{BOD}_5$ còn $48,60\text{ mg/l}$ (hiệu suất đạt $87,23%$), TSS giảm còn $85\text{ mg/l}$ (hiệu suất $66,67%$), T-N còn $7,30\text{ mg/l}$ ($81,89%$), T-P còn $4,10\text{ mg/l}$ ($72,85%$). Toàn bộ các chỉ tiêu được kiểm nghiệm đều đạt yêu cầu của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất từ nghiên cứu:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chứng minh tính khả thi của việc sử dụng hạt lọc nổi Xifo trong mô hình lọc sinh học tuần hoàn dòng chảy ngược để xử lý nước thải sinh hoạt phân tán.
- Chỉ ra thời gian lưu nước tối ưu (48 giờ) để hệ thống đạt chuẩn môi trường mà không cần dùng đến hóa chất độc hại, tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu chi phí đầu tư.
- Đề xuất bổ sung các công trình thứ cấp (như bãi lọc ngầm, hồ sinh học) sau mô hình lọc sinh học tuần hoàn để đảm bảo tính an toàn sinh thái trước khi xả ra môi trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận đã thẳng thắn chỉ ra các hạn chế thực tế trong quá trình nghiên cứu:
- Quy mô nghiên cứu mới dừng lại ở mức mô hình pilot trong phòng thí nghiệm với lưu lượng tĩnh, chưa phản ánh đầy đủ biến động tải lượng thủy lực và dao động nhiệt độ theo mùa của nguồn nước thải KTX ngoài thực địa.
- Hiệu suất xử lý của hạt lọc nổi Xifo còn chưa đạt đến trạng thái hoàn toàn ổn định qua các chu kỳ rửa lọc và xả bùn định kỳ.
- Chưa khảo sát các chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh (như Coliform, Fecal coliform) và tổng các chất hoạt động bề mặt (phát sinh nhiều từ hoạt động giặt tẩy của sinh viên) để đánh giá toàn diện năng lực lọc sạch của vật liệu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả kiến nghị:
- Tiếp tục khảo sát thời gian lưu nước kéo dài hơn 48 giờ để xác định chính xác thời điểm bão hòa, ngưỡng mà hiệu suất xử lý đạt đỉnh và bắt đầu có xu hướng suy giảm.
- Thử nghiệm so sánh khả năng xử lý của hạt Xifo với các loại giá thể, vật liệu lọc khác nhằm lựa chọn loại vật liệu tối ưu nhất về mặt kỹ thuật và chi phí.
- Phân tích bổ sung các thông số Coliform và chất tẩy rửa bề mặt để hoàn thiện giải pháp công nghệ trước khi nâng cấp lên quy mô trạm xử lý nước thải tập trung.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hương Lan là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường.
- Đơn vị quản lý ký túc xá, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp hoặc khu dân cư tập trung đang tìm kiếm giải pháp xử lý nước thải sinh hoạt quy mô phân tán với chi phí thấp và quy trình vận hành đơn giản.
- Phần đáng tham khảo nhất trong tài liệu là bảng số liệu chi tiết về định mức phát sinh nước thải tại 16 dãy nhà Ký túc xá K (Bảng 4.1), bản vẽ cấu tạo mô hình cột lọc dòng chảy ngược sử dụng hạt Xifo (Hình 3.1) và chuỗi dữ liệu động học thực nghiệm suy giảm nồng độ $\text{BOD}_5$, T-N, T-P, TSS qua các mốc thời gian lưu nước 10h, 24h và 48h.
Câu hỏi thường gặp
Nguồn nước thải đầu vào tại Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên có mức độ ô nhiễm như thế nào so với quy chuẩn môi trường?
Nước thải sinh hoạt đầu vào tại Ký túc xá K có mức độ ô nhiễm cao: nồng độ $\text{BOD}_5$ đạt $380,60\text{ mg/l}$ (vượt 3,8 lần ngưỡng giới hạn cho phép $100\text{ mg/l}$ theo QCVN 14:2008/BTNMT Cột B); hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS đạt $255\text{ mg/l}$ (vượt 2,55 lần quy chuẩn Cột B); nồng độ Tổng Nitơ (T-N) là $40,30\text{ mg/l}$; Tổng Photpho (T-P) là $15,10\text{ mg/l}$; oxy hòa tan DO rất thấp chỉ đạt $0,50\text{ mg/l}$ và pH đạt 7,30.
Tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt phát sinh hàng năm tại khu Ký túc xá K là bao nhiêu?
Khu Ký túc xá K gồm 16 dãy nhà 5 tầng (K1 đến K16) với hơn 3.000 sinh viên. Căn cứ trên định mức phát thải bằng 80% lưu lượng nước cấp tiêu thụ, tổng lượng nước thải phát sinh trung bình hàng tháng của toàn khu là $7.401\text{ m}^3/\text{tháng}$, tương đương tổng lượng nước thải cả năm học là $88.810\text{ m}^3/\text{năm}$.
Vật liệu lọc nổi Xifo được sử dụng trong mô hình thí nghiệm có các đặc tính kỹ thuật gì?
Hạt Xifo là vật liệu lọc dạng hình cầu màu trắng, có trọng lượng riêng nhẹ hơn nước, đóng vai trò làm giá thể cho màng vi sinh vật bám dính và giữ lại bùn huyền phù khi dòng nước chảy ngược từ dưới lên. Loại hạt có kích thước 3–5 mm có diện tích tiếp xúc bề mặt là $600\text{ m}^2/\text{m}^3$; loại hạt có kích thước 2–3 mm có diện tích tiếp xúc bề mặt lên tới $1.150\text{ m}^2/\text{m}^3$.
Chế phẩm vi sinh nào đã được bổ sung trong giai đoạn khởi động mô hình và nhằm mục đích gì?
Trong quá trình chạy khởi động hệ thống thí nghiệm, tác giả đã bổ sung chế phẩm vi sinh EM2 vào nguồn nước thải sinh hoạt nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tạo màng sinh học và gia tăng mật độ các chủng vi sinh vật yếm khí có lợi bám dính trên bề mặt hạt lọc Xifo trước khi tiến hành vận hành đo đạc chính thức.
Hiệu suất xử lý các chỉ tiêu ô nhiễm của mô hình đạt mức cao nhất ở thời gian lưu nước nào?
Mô hình đạt hiệu suất xử lý cao nhất ở thời gian lưu nước 48 giờ. Cụ thể: hiệu suất xử lý $\text{BOD}_5$ đạt $87,23%$ (nồng độ giảm từ $380,60\text{ mg/l}$ xuống $48,60\text{ mg/l}$); Tổng Nitơ đạt $81,89%$ (từ $40,30\text{ mg/l}$ xuống $7,30\text{ mg/l}$); Tổng Photpho đạt $72,85%$ (từ $15,10\text{ mg/l}$ xuống $4,10\text{ mg/l}$); tổng chất rắn lơ lửng TSS đạt $66,67%$ (từ $255\text{ mg/l}$ xuống $85\text{ mg/l}$). Tại mốc này, toàn bộ các chỉ tiêu đều đạt QCVN 14:2008/BTNMT Cột B.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Hương Lan đã đánh giá toàn diện hiện trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại Ký túc xá K – Đại học Thái Nguyên với lượng phát thải lớn lên tới $88.810\text{ m}^3/\text{năm}$. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh mô hình lọc sinh học tuần hoàn dòng chảy ngược sử dụng hạt lọc nổi Xifo kết hợp chế phẩm vi sinh EM2 có khả năng loại bỏ hiệu quả các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Khi vận hành với thời gian lưu nước tối ưu 48 giờ, hệ thống đạt hiệu suất xử lý $\text{BOD}_5$ là $87,23%$, Tổng Nitơ $81,89%$, Tổng Photpho $72,85%$ và TSS $66,67%$, đưa toàn bộ các thông số nước thải đầu ra đạt yêu cầu của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B. Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy cho việc ứng dụng công nghệ lọc sinh học phân tán chi phí thấp vào thực tiễn xử lý nước thải tại các khu nội trú và cụm dân cư tập trung.