Đặt vấn đề Trong quá trình công nghiệp hóa đất nƣớc, việc phát triển một nền kinh tế vững mạnh cần có sự phát triển đồng bộ của tất cả các ngành nghề trong đó lĩnh vực đƣợc quan tâm hàng đầu đó là ngành công nghiệp. Việc phát triển kinh tế ở nƣớc ta hiện nay đã tạo cho nền công nghiệp đang từng ngày thay đổi. Sự phát triển đó đòi hỏi cần có sự quy hoạch xây dựng các nhà máy, công ty, xí nghiệp một cách tập trung hơn nhằm liên kết các nhà máy có liên quan, xây dựng gần nguồn nguyên liệu giảm chi phí vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm. Chính vì lý do đó sự ra đòi của các khu công nghiệp đã đáp ứng đƣợc các yêu cầu của nền công nghiệp hiện đại.
Sự ra đời các khu công nghiệp là một tất yếu của nền công nghiệp phát triển, nó đáp ứng những nhu cầu của xã hội nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. Giải quyết vấn đề về lao động đang là vấn đề đƣợc ƣu tiên của xã hội hiện tại, tạo nên sự phát triển trên quy mô rộng nhƣng vẫn thống nhất. Tuy vậy việc xây dựng các khu công nghiệp cũng đem lại nhiều bất cập trong xã hội. Đặc biệt với nƣớc ta nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn, xây dựng khu công nghiệp ảnh hƣởng đến cuộc sống ngƣời dân.
Mất đất sản xuất nông nghiệp, di dời nơi ở… đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng một cách nghiêm trọng. Các KCN phát triển không đồng bộ với việc bảo vệ môi trƣờng, do đó việc phát triển nền nông nghiệp đã kéo theo nhiều tác động tiêu cực đến môi trƣờng. Tại các khu công nghiệp công tác bảo vệ môi trƣờng chƣa đƣợc quan tâm, nhiều khu công nghiệp chƣa xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung. Đặc biệt KCN Sông Công – Thái Nguyên tuy mới ra đời nhƣng ảnh hƣởng của nó tới môi trƣờng sống của dân cƣ khu vực xung quanh là rất nghiệm trọng.
1 n Nƣớc thải của các nhà máy trong KCN làm ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc ảnh hƣởng trực tiếp đến sản xuất và sức khỏe của ngƣời dân khu vực xung quanh. Xuất phát từ yêu cầu đánh giá hiện trạng nƣớc thải, đƣa ra một cái nhìn tổng quát và phản ánh chính xác mức độ gây ô nhiễm của KCN tới môi trƣờng. Đƣợc sự nhất trí của ban giam hiệu nhà trƣờng, ban chủ nhiệm Khoa Môi trƣờng – Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo: TS Trần Thị Phả. tôi tiến hành thự hiện đề tài “ Đánh giá hiện trạng nƣớc thải Khu công nghiệp Sông Công I – TP Thái Nguyên ’’.Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích - Đánh giá hiện trạng nƣớc thải khu công nghiệp Sông Công I – Thái Nguyên - Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của nƣớc thải ô nhiễm đến khu vực xung quanh khu công nghiệp.
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu và hạn chế tác động có hại đếnmôi trƣờng nƣớc một cách hữu hiệu.2 Yêu cầu Thu thập đầy đủ các số liệu cần thiết cho việc đánh giá. - Số liệu phải chính xác khách quan trung thực. - Cần nắm vững các quy định trong luật bao vệ môi trƣờng 2005 và các văn bản dƣới luật có liên quan đến môi trƣờng nƣớc. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học - Cung cấp thông tin về hiện trạng môi trƣờng nƣớc của khu vực đề tài nghiên cứu.
- Áp dụng kiến thức đã học vào trong thực tế. 2 n - Có thêm kinh nghiệm tích lũy cho công việc sau khu ra trƣờng. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Bổ sung cho tƣ liệu học tập và cho quản lý.
Ý nghĩa thực tiễn - Biết đƣợc mặt mạnh, yếu và những khó khăn tồn tại trong quá trình quản lý và xử lý nguồn nƣớc thải của nhà máy trong khu vực công nghiệp Sông Công I –Thái Nguyên. - Đề xuất kiến nghị các biện pháp bảo vệ môi trƣờng phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội khu vực trên cơ sở phát triển bền vững. 3 n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2. cơ sở lý luận - Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nƣớc Nƣớc là sự khởi đầu cho sự sống của mọi sinh vật trên trái đất, không có nƣớc thì bất cứ 1 sinh vật nào trên trái đất đều không thể tồn tại.
Vì vậy bảo vệ tài nguyên nƣớc là vấn đề cấp thiết đƣợc đặt lên hàng đầu. Tài nguyên nƣớc là vấn đề liên quốc gia vì nhiều quốc gia cùng sử dụng một dòng sông và dòng chảy thì không tuân theo biên giới quốc gia nào. Vậy bảo vệ tài nguyên nƣớc cũng là vấn đề chính trị, ngoại giao, nhân văn. Vì nếu thƣợng nguồn sử dụng quá mức hoặc gây ô nhiễm thì khu vực hạ lƣu sẽ bị ảnh hƣởng nặng nề.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam đã làm cho nƣớc thải công nghiệp cũng nhƣ nƣớc thải sinh hoạt thải ra ngày càng nhiều, gây ô nhiễm đáng kể tới nguồn nƣớc mặt và môi trƣờng. Do đó, nhiều vùng nƣớc mặt đã bị ô nhiễm bởi các hợp chất hóa học và vi sinh vật độc hại. Trong những năm gần đây, nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng do các chất hữu cơ , hoạt động công nghiệp gây ra ngày càng tăng. Sự ô nhiễm môi trƣờng nƣớc đã gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật.
có hai nguồn phát sinh gây ô nhiễm nguồn nƣớc chính là nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải công nghiệp. Nguồn nƣớc mặt đang bị suy giảm cả về chất lƣợng lẫn trữ lƣợng.Vì vậy, bảo vệ tài nguyên nƣớc là rất cần thiết, là trách nhiệm của mỗi ngƣời mỗi quốc gia và toàn nhân loại. 4 n - Khái niệm về nguồn nƣớc Nguồn nước là các dạng tích tụ nƣớc tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nƣớc dƣới đất; mƣa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nƣớc khác Nguồn nước liên tỉnh là nguồn nƣớc phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng trở lên. Nguồn nước nội tỉnh là nguồn nƣớc phân bố trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng.
Nguồn nước liên quốc gia là nguồn nƣớc chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnh thổ nƣớc khác hoặc từ lãnh thổ nƣớc khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nƣớc nằm trên đƣờng biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng. (Luật tài nguyên nước)[2] - Khái niệm về ô nhiễm nguồn nƣớc Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nƣớc không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật. (Luật tài nguyên nước)[2] Các nguồn gây ô nhiễm nguồn nƣớc: Sinh hoạt của con ngƣời: trong cuộc sống của mình con ngƣời cần lƣợng nƣớc rất lớn. Xã hội càng phát triển nhu cầu dùng nƣớc càng tăng, do đó nƣớc thải ngày càng tăng.
Nƣớc thải công nghiệp: bao gồm nƣớc thải công nghệ, nƣớc thải từ quá trình vệ sinh, nƣớc thải từ quá trình sinh hoạt của cán bộ công nhân trong nhà máy,… Các hoạt động nông nghiệp: nƣớc thải từ các chuồng trại chăn nuôi, các loại thuốc trừ sâu, các loại thuốc diệt cỏ, các loại thuốc diệt nấm… 5 n Nƣớc chảy tràn: nƣớc chảy tràn trên mặt đất do nƣớc mƣa, nƣớc rửa đƣờng xá,… - Khái niệm về nƣớc thải công nghiệp và đặc tính của nƣớc thải công nghiệp Nƣớc thải công nghiệp là nƣớc thải đƣợc sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp. Đối với xí nghiệp công nghiệp có hai loại nƣớc thải: nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải sản xuất: Nƣớc thải sinh hoạt bao gồm: nƣớc thải sinh hoạt từ khâu chuẩn bị, chế biến thức ăn tại các nhà hàng nhà ăn xí nhiệp, nƣớc thải sinh hoạt của công nhân…. Nƣớc thải sản xuất là loại nƣớc thải phát sinh trong quá trình sản xuất của công ty, xí nghiệp…tùy thuộc vào nguyên liệu, công nghệ sản xuất…thì mức độ ô nhiễm sẽ khác nhau. Nƣớc thải công nghiệp rất đa dạng về lƣợng cũng nhƣ tính chất, nó tùy thuộc vào các yếu tố nhƣ: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ, công suất hoạt động, … do tính chất đa dạng đó nên mỗi loại nƣớc thải có một công nghệ xử lý riêng.
Trong ngành công nghiệp với đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, đồng nghĩa với việc cũng có nhiều loại nƣớc thải công nghiệp đƣợc thải ra hàng ngày. Một số loại nƣớc thải của các ngành công nghiệp thƣờng gặp và gây không ít đau đầu cho ngƣời dân cũng nhƣ các nhà chức trách trong việc kiểm soát nhƣ: Nƣớc thải sản xuất bột ngọt. Nƣớc thải sản xuất Càfe. Nƣớc thải sản xuất Bia.
Nƣớc thải sản xuất Đƣờng. 6 n Nƣớc thải sản xuất Giấy. Nƣớc thải sản xuất Cao su. Nƣớc thải ngành Xi măng.
Nƣớc thải ngành Khoáng sản. Nƣớc thải ngành Dệt nhuộm. Mỗi loại nƣớc thải của mỗi ngành công nghiệp có một đặc tính riêng, tuy nhiên các thành phần chính của nƣớc thải bao gồm: kim loại nặng, dầu mỡ (chủ yếu trong nƣớc thải ngành xi mạ), chất hữu cơ khó phân hủy (có trong nƣớc thải sản xuất dƣợc phẩm, nông dƣợc,dệt nhuộm …). Các thành phần này không những khó xử lý mà còn độc hại đối với con ngƣời và môi trƣờng sinh thái.
Quy mô hoạt động sản xuất càng lớn thì lƣợng nƣớc càng nhiều kéo theo lƣợng xả thải cũng càng nhiều. Bên cạnh đó, các thành phần khác trong nƣớc thải công nghiệp tuy không phải là nguy hiểm nhƣng nếu quá nhiều và không đƣợc xử lý đúng cách cũng là mối đe dọa lớn đối với nguồn nƣớc và môi trƣờng.[13] Nói tóm lại, nƣớc thải công nghiệp rất nguy hiểm, mức độ ô nhiễm của nó phụ thuộc vào loại hình công nghiệp, công nghệ sản xuất và xử lý, nguyên liệu sử dụng… 2. Căn cứ pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 2005 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chử nghĩa Việt Năm khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006. - Luật Tài nguyên nƣớc số 17/2012/QH13 đã đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 và có hiệu lực ngày 1/1/2013.
- Nghị định số 149/ 2004/NĐ – CP Quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng, tài nguyên nƣớc, xả thải vào nguồn nƣớc.