MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ khi được phát hiện đến nay, dầu mỏ đã và đang là nguồn nguyên liệu vô cùng quý giá của mỗi quốc gia nói riêng và toàn nhân loại nói chung. Ngày nay sản phẩm của dầu mỏ đang có mặt trong hầu hết các lĩnh vực đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người cũng như trong các ngành công nghiệp. Chúng là nguồn nguyên liệu và nhiên liệu không thể thiếu được trong một xã hội công nghiệp, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế xã hội.
Chính tầm quan trọng nêu trên mà dầu mỏ đóng một vai trò hết sức đặc biệt trong sự phát triển kinh tế, công nghiệp của mỗi quốc gia. Do đó, tất cả các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình một nền công nghiệp dầu khí. Hiệu quả sử dụng dầu mỏ phụ thuộc vào trình độ phát triển của ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ. Việt Nam là một trong các quốc gia có tiềm năng về dầu khí.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến dầu khí thế giới, nước ta đang có những bước tiến mạnh mẽ trong ngành công nghiệp này. Tuy nhiên, việc khai thác, chế biến, vận chuyển, sử dụng dầu mỏ và các loại sản phẩm dầu mỏ cũng gây nhiều tác hại, đặc biệt là ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng môi trường. Các hiện tượng tràn dầu, rò rỉ khí, dầu gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường như làm hủy hoại hệ sinh thái động thực vật và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người. Vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường khỏi các chất ô nhiễm dầu đã trở thành một trong những vấn đề được xã hội quan tâm.
Vấn đề xử lý nước thải nhiễm dầu từ các nhà máy lọc dầu và các kho chứa xăng dầu là rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Để giải quyết vấn đề này, nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn đã nghiên cứu ra nhiều công nghệ, nhiều phương pháp, trong đó phương pháp cơ học kết hợp sinh học cho hiệu quả cao trong xử lý nước thải nhiễm dầu. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến, chi phí không quá cao. Qua những lý do đó với đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải nhiễm dầu bằng 2 phương pháp tuyển nổi và bùn hoạt tính” sẽ là câu trả lời góp phần giải quyết thỏa đáng cho những vấn đề trên.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đã qua Vấn đề ô nhiễm dầu và xử lý dầu tràn, nước thải nhiễm dầu đã được quan tâm giải quyết ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đặc biệt là ở các quốc gia có ngành công nghiệp dầu khí phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Mexico, … Phòng Vi sinh vật môi trường - Viện Công nghệ Môi trường (Viện KH - CN Việt Nam) đã tiến hành phân lập và tuyển chọn được 30 chủng xạ khuẩn và 20 chủng vi khuẩn ưa nhiệt, có ưu điểm là có tác dụng phân chủy mạnh các chất hữu cơ trong nước thải. Tất cả các chủng vi sinh vật tuyển chọn dùng để sản xuất các chế phẩm vi sinh vật đều đã được nghiên cứu kỹ các đặc điểm sinh học để khẳng định chúng không độc hại cho con người, vật nuôi và môi trường. [24] Tính đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã có 3 – 5 nhà máy tái chế dầu thải có công suất bình quân 40 – 50 tấn/ ngày với công nghệ chưng cất và lọc.
Tuy nhiên, thực chất chỉ có khoảng 2 công ty thực hiện theo cam kết. Các cơ sở còn lại hoạt động trong các khu dân cư không có giấy phép chưa thể thống kê được. Ngoài ra, tất cả các thiết bị chưng cất đều chế tạo thô sơ, công suất lớn nhưng chất lượng sản phẩm kém. Về quản lý Nhà nước, hiện các cơ sở sản xuất phát sinh dầu thải và các nhà máy tái chế, xử lý chất thải nhiễm dầu được quản lý bằng hệ thống Chứng từ quản lý chất thải và phải báo cáo định kỳ 2 năm một lần với số lần kiểm tra tương ứng.
Tuy nhiên, hiện số lượng cán bộ và trang thiết bị kiểm tra rất hạn chế, việc quản lý các cơ sở sản xuất “chui” là rất khó khăn khi các cơ sở này di chuyển liên tục. Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu và phát minh ra các thiết bị xử lý nước thải nhiễm dầu đã được thực hiện như: Các nhà khoa học của Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường (VITTEP) đã xây dựng thành công giải pháp kỹ thuật xử lý nước nhiễm dầu cho Xí nghiệp Đầu máy Đà Nẵng bằng phương pháp xây dựng bể điều hòa với các tấm nhựa xếp song song để tách dầu mỡ. Theo phương án của VITTEP, lượng nước thải bao gồm dầu, mỡ, hóa chất tẩy 3 rửa, xỉ than, nước bẩn đã qua sử dụng trong quá trình làm sạch các chi tiết máy được gom vào một bể điều hòa. Bể này có các ngăn tách riêng cặn đất cát, sau đó chuyển tiếp nước thải sang ngăn điều hòa.
Ở đây, nước thải được bơm đến bộ phận làm nhiệm vụ tách dầu với các tấm nhựa xếp song song để tách các hạt dầu nổi trên bề mặt nước. Tiếp đó, nước thải được lưu thông qua lớp vật liệu polymer để các hạt dầu nhỏ hơn được hấp phụ. Sau khi tách hết dầu, lượng nước này được dẫn về bể phân hủy cặn. Đây là bể nằm trong hệ thống xử lý trung tâm, có nhiệm vụ thu gom cả nước thải sản xuất lẫn nước thải sinh hoạt của toàn bộ xí nghiệp.
Nước thải tại đây được bơm tiếp vào một bể có hệ thống sục khí, rồi chuyển sang bể lắng và cuối cùng mới vào đến bể khử trùng. Dung dịch Chlorine được bơm vào bể và đóng vai trò làm sạch nước thải nhiễm bẩn. Đối với lượng nước mưa để tránh khả năng mang lẫn theo một lượng dầu mỡ rơi rớt. Trước khi thoát ra hệ cống chung, toàn bộ nước mưa được thu gom về một mối và phải đi qua một “bẫy dầu” là một hố thu có thiết bị bơm dầu thải.
Dầu sẽ được giữ lại và được bơm định kỳ vào thùng chứa, chỉ có nước mưa sạch mới thoát đi. Định kỳ mỗi năm một lần sẽ thực hiện hút lượng bùn, rác ở bể phân hủy cặn và được đem chôn lấp. Còn lượng dầu thải được thu gom chứa trong các thùng phuy để tái sử dụng. Qua ứng dụng hệ thống xử lý nước thải của VITTEP, nguồn nước thải của xí nghiệp đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại B (QCVN 24:2009/BTNMT).
[15] Hệ thống công nghệ xử lý nước thải nhiễm xăng dầu của Tổng kho M90 thuộc Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần do Viện Công nghệ mới thuộc Viện Khoa học và Công nghệ quân sự, Bộ Quốc phòng nghiên cứu lắp đặt. Hệ thống ứng dụng công nghệ khí - sinh học vào xử lý. Đây là công nghệ mới đã được ứng dụng ở nhiều cơ sở trong nước và quân đội. Hệ thống bao gồm các bể phân ly tách dầu, bể kết hợp làm thoáng, tháp lọc sinh học hiếu khí, màng đệm vi sinh, máy bơm nén khí, bơm nước thải, bơm bùn, bể lắng, bể hấp phụ… Công nghệ xử lý bằng khí - sinh học để xử lý nước thải nhiễm xăng dầu ở Tổng 4 kho M90 đạt hiệu suất từ 95 % đến 98 %.
Nước thải sau xử lý đạt Quy chuẩn của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với nguồn nước loại B quy định tại QCVN 24/2009/BTNMT. [15] Công ty Xăng dầu B12 (Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam) đã phối hợp với Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thực hiện công trình "Ứng dụng công nghệ phân hủy sinh học xử lý nước thải nhiễm dầu", sử dụng vi khuẩn phân lập có sẵn trong nước thải, không tạo ra sản phẩm phụ độc hại sau quá trình xử lý và bảo đảm nước thải đạt tiêu chuẩn loại B trước khi xả ra ngoài. Công nghệ này đang được ứng dụng tại 5 kho xăng dầu của Công ty, chi phí xử lý thấp. Nếu công nghệ phân hủy sinh học được triển khai ra tất cả kho xăng dầu trong cả nước, sẽ tạo sự an toàn và giảm chi phí vài trăm tỷ đồng so với các phương pháp xử lý khác.
Với đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý nước nhiễm dầu của thực vật nổi: lục bình, bèo tấm”, đề tài đã chứng minh được thực vật nổi lục bình và bèo tấm có khả năng xử lý dầu với hiệu quả cao. Hiệu quả xử lý nước thải nhiễm dầu của lục bình thông qua các chỉ tiêu COD, BOD5, SS lần lượt là 82.6 %, 83 %, 63 % cao hơn hẳn so với bèo tấm là 48. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải nhiễm dầu của mô hình kết hợp tuyển nổi khối và bùn hoạt tính. Từ đó đề ra phương pháp xử lý nước thải nhiễm dầu có hiệu quả.
Nội dung nghiên cứu a. Thu thập tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu: dầu mỏ, nước thải nhiễm dầu, bùn hoạt tính. Chạy mô hình thí nghiệm nhằm khảo sát khả năng xử lý nước thải nhiễm dầu (mô hình tuyển nổi và mô hình bùn hoạt tính). Phân tích các thông số đầu vào và đầu ra mô hình xử lý (SS, COD, BOD, pH, dầu khoáng) từ đó xác định hiệu quả xử lý của mô hình.
Xác định thông số động học của quá trình bùn hoạt tính. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu a. Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 15/02/2017 đến 15/8/2017. Đề tài tập trung nghiên cứu xác định các thông số động học của quá trình bùn hoạt tính xử lý nước thải nhiễm dầu.
Phân tích được một số chỉ tiêu chính trong nước thải như COD, BOD, SS, pH, dầu khoáng, … nên chưa đánh giá hết hiệu quả xử lý của mô hình. Đề tài thực hiện trên quy mô phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Ý nghĩa của đề tài Đề tài góp phần đề xuất một phương pháp hiệu quả trong việc xử lý nước thải nhiễm dầu trong các kho chứa xăng dầu, trạm sửa chữa và rửa xe máy, ô tô và nhà máy lọc dầu đó là áp dụng phương pháp kết hợp cả tuyển nổi và sinh học. Mặc dù trong phương pháp này quá trình xử lý bằng sinh học tốn nhiều thời gian nhưng đây là phương pháp mang lại hiệu quả cao về tính kinh tế lẫn tính kỹ thuật, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, cải thiện chất lượng môi trường sống.
Phương pháp nghiên cứu 6.