MỞ ĐẦU Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài 3260 km, rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Sản lượng thủy sản đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Trong những năm gần đây, nuôi tôm siêu thâm canh (STC) đang ngày càng phát triển. Chẳng hạn, tại Cà Mau (hiện là tỉnh có diện tích nuôi thuỷ sản lớn nhất cả nước, với 302.861 ha, chiếm 27,9% cả nước, 39% vùng ĐBSCL); diện tích nuôi tôm công nghiệp của tỉnh đạt trên 9.664 ha; diện tích ao nuôi tôm siêu thâm canh tăng nhanh, từ khoảng 100 ha nuôi tôm siêu thâm canh vào cuối năm 2016 đã tăng lên khoảng 2.100 ha năm 2020, năng suất đạt từ 30-45 tấn/ha/vụ nuôi.
Kết quả khảo sát tại Cà Mau, Bạc Liệu, Sóc Trăng,. cho thấy, mỗi đơn vị hoặc hộ gia đình có sự khác biệt nhất định trong khâu phòng chống bệnh cho tôm trong đó quan trọng nhất là xử lý và kiểm soát nước nuôi, các kỹ thuật khác cơ bản là giống nhau. Phần lớn các hộ nuôi tôm siêu thâm canh thực hiện quy trình xi phông bùn lắng ở đáy ao nuôi và thay thế bổ sung nước mới hàng ngày. Với ao nuôi khoảng 1000 m2 (độ sâu mức nước từ 80 đến 120 cm), lượng nước thay mới (nước cấp đầu vào) khoảng 20% đến 50% thể tích ao nuôi, nước bùn đáy khoảng 5 đến 10% lượng nước thay mới.
Lượng nước thải cần xử lý bằng tổng lượng nước thay mới cộng lượng bùn đáy. Các thông số ô nhiễm chính của nước thải gồm hữu cơ, các hợp chất chứa ni tơ và vi khuẩn. Ở nửa cuối của quá trình nuôi (sau 50 ngày) thì mức ô nhiễm tăng lên rất cao, cụ thể: NH3 vượt khoảng 8 lần, NO2 vượt khoảng 10 lần, tổng vi khuẩn Vibrio vượt hàng chục lần so với yêu cầu. Nước xả thải từ các ao nuôi tôm siêu thâm canh chưa được xử lý triệt để trước khi xả thải ra sẽ là nguồn phát sinh và phát tán các loại bệnh của tôm trên diện rộng.
2 Để giảm thiểu các nguy cơ về dịch bệnh cũng như bảo vệ môi trường thì biện pháp cần thiết là kiểm soát chặt chẽ ao nuôi, kiểm soát bùn đáy và chất lượng nước cấp, nước thải. Việc này sẽ dẫn đến các giải pháp khác nhau, bao gồm: (1) Xử lý nước đầu vào và thay nước trong ao nuôi với lượng đủ lớn để duy trì nồng độ các chất hữu cơ, NO2, NH3, H2S và vi khuẩn Vibrio ở mức cho phép; (2) Xử lý để tuần hoàn nước trong ao nuôi; và trong cả hai trường hợp đều cần (3) kiểm soát chặt nguồn thải (xử lý triệt để) để hạn chế tối đa lây nhiễm dịch bệnh. Tóm lại, việc xử lý trước khi xả thải hoặc tái sử dụng là rất cần thiết. Luận văn này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến hiệu quả xử lý amoni bằng quá trình vi sinh hiếu khí, bám dính trên vật liệu mang cố định ở các mức tải lượng amoni khác nhau, đề tài được lựa chọn có tên: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối đến hiệu quả xử lý amoni trong nước thải nuôi tôm siêu thâm canh”.
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu : - Nghiên cứu xác định được hiệu quả xử lý amoni bằng quá trình vi sinh hiếu khí bám dính trên vật liệu mang cố định ở các độ mặn tương tự như độ mặn của nước nuôi tôm. Nội dung nghiên cứu : - Thực nghiệ xác định được hiệu quả xử lý amoni bằng quá trình vi sinh hiếu khí bám dính trên vật liệu mang cố định ở nồng độ amoni đầu vào tính theo ni tơ là 5; 10; 17,5 và 25 mgN/l tại các độ mặn 10, 20 và 30 ‰ với lưu lượng 0,816 l/giờ. 3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Luận văn này cung cấp số liệu thực nghiệm về hiệu quả xử lý amoni trong nước thải mặn nói chung và nước thải nuôi tôm siêu thâm canh nói riêng bằng quá trình vi sinh hiếu khí bám dính trên vật liệu mang cố định. Kết quả nghiên cứu khẳng định quá trình vi sinh hiếu khí bám dính trên vật liệu mang cố định là một trong những quá trình khả thi để xử lý nước thải nuôi tôm siêu thâm canh.
Kết quả nghiên cứu cũng đưa đến khả năng ứng dụng quá trình vi sinh hiếu khí bám dính trên vật liệu mang cố định để xử lý nước thải mặn chứa amoni. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NUÔI TÔM SIÊU THÂM CANH TẠI VIỆT NAM 1. Sơ lược về tình hình phát triển nuôi tôm siêu thâm canh Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài 3260 km, rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Sản lượng thủy sản đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm [1]. Tôm sống phù hợp ở các vùng nước lợ gần biển. Với đặc trưng này, Miền Trung, Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu…) và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang) là nơi tập trung sản lượng tôm nuôi nhiều nhất cả nước. Theo Tổng cục thủy sản [2], diện tích thả nuôi tôm đến ngày 22/3/2019 là 494.961 ha (tăng 1,6% so với cùng kỳ 2018), chủ yếu là diện tích nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến; diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 25.240 ha tăng 24,2 % so với cùng kỳ năm 2018.
Trong số hơn 706 nghìn ha tôm hiện nay, hơn 609 nghìn ha là quảng canh, quảng canh cải tiến theo hộ cá thể, mới có 95 nghìn ha nuôi công nghiệp [3]. Diện tích nuôi tôm siêu thâm canh (STC), mật độ từ 300 con/m2, năng suất đạt từ 30-45 tấn/ha/vụ nuôi) tăng nhanh, chẳng hạn tại Cà Mau, từ khoảng 100 ha nuôi tôm siêu thâm canh vào cuối năm 2016 đã tăng lên khoảng 2000 ha vào cuối năm 2018; theo kế hoạch, đến năm 2020, tỉnh sẽ có từ 5.000ha diện tích nuôi STC và đến 2030 con số này tăng lên là 10. Xu hướng phát triển nuôi tôm siêu thâm canh cũng là xu hướng chung của vùng ĐBSCL cũng như cả nước. Nước thải nuôi tôm STC Hoạt động nuôi tôm STC gồm các hoạt động chính sau: (i) cho ăn; (ii) xử lý và kiểm soát chất lượng nước nuôi; và (iii) phòng chống bệnh dịch.
Nguồn cung cấp thức ăn và thuốc phòng chống dịch bệnh đến từ các nhà cung cấp kèm theo các cách thức sử dụng chúng. Trong nuôi tôm thương phẩm siêu thâm canh 5 hiện nay (mật độ từ 300 con/m2), tỷ lệ khối lượng thức ăn/ khối lượng tôm thu được (FCR - Feed Conversion Ratio) hiện nay ở mức 1,1 đến 1,2. Lượng thức ăn đưa vào tùy theo độ tuổi của tôm, nói chung tổng lượng tăng theo tuổi của tôm. Về khía cạnh phòng chống dịch bệnh, kết quả khảo sát tại Cà Mau và các tỉnh lân cận (Bạc Liệu, Sóc Trăng, .) cho thấy mỗi đơn vị hoặc hộ gia đình có sự khác biệt nhất định trong khâu phòng chống bệnh cho tôm trong đó quan trọng nhất là xử lý và kiểm soát nước nuôi, các kỹ thuật khác cơ bản là giống nhau.
Việc xử lý và kiểm soát chất lượng nước nuôi hiện nay mang tính kinh nghiệm, ít định lượng. Kết qủa khảo sát của Viện Công nghệ môi trường tại một số trang trại nuôi tôm siêu thâm canh trên địa bàn các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Thái Bình,. cho thấy các trang trại xử lý nước theo quy trình sau: - Nước đầu vào được xử lý theo trình tự sau: (i) Xử lý sơ bộ (hóa chất là PAC –PolyAluminiumChloride, lượng khoảng 20-30 g/m3) → (ii) Ao xử lý (Sử dụng chlorin với lượng 20-30 g/m3) → (iii) Ao sẵn sàng (lưu trữ nước sau khử trùng, khi hàm lượng clo hoạt tính giảm xuống dưới 1 mgN/L thì được đưa sang ao nuôi). - Nước trong ao nuôi được kiểm soát bằng cách: (i) hút bùn đáy hàng ngày và bổ sung nước mới từ ao sẵn sàng; (ii) bổ sung chế phẩm vi sinh trực tiếp; Một số trang trại nuôi lớn có sử dụng bộ test nhanh các chỉ tiêu NH3, pH, DO và NO2-, khi các chỉ số NH3 và NO2- tăng cao hoặc quan sát thấy sức khỏe của tôm có vấn đề thì lượng nước hút đáy có thể tới 50% thậm chí 100%.
- Nước thải (nước hút bùn đáy): Phần lớn các hộ nuôi tôm siêu thâm canh thực hiện quy trình xi phông bùn lắng ở đáy ao nuôi và thay thế bổ sung nước mới hàng ngày. Với ao nuôi khoảng 1000 m 2 (độ sâu 6 mức nước từ 80 đến 120 cm), lượng nước thay mới (nước cấp đầu vào) khoảng 20% đến 50% thể tích ao nuôi. Nước thải được đưa sang ao chứa, bổ sung chế phẩm vi sinh kết hợp sục khí, sau đó được khử trùng bằng chlorin với lượng khoảng 30 g/m3 trước khi xả ra môi trường tiếp nhận. Có thể nói, không trang trại nuôi tôm nào có hệ thống xử lý nước thải.
→ Lắng → Ao xử lý → Ao sẵn sàng → Ao nuôi → XLNT ↑ ↑ ↓ ↑ (1) bổ Hút đáy hàng sung vi PAC: Để Clo tự do ngày từ 10 đến Ca(OCl)2: sinh 20 – 30 giảm xuống ~ 1 50% tổng lượng 20 – 30 g/m 3 (2) sục khí g/m 3 ppm nước (3) khử Cá biệt: 100% trùng Hình 1. Sơ đồ quy trình nuôi tôm và xử lý chất thải [5] Lượng nước cần thay trong trường hợp tốt nhất được xử lý theo quy trình tuần hoàn nước bằng cách được cho chảy một dãy ao nối tiếp theo trình tự: ao nuôi cá (để tận dụng các thức ăn thừa và phân tôm), ao lắng cặn, ao khử trùng, ao bổ sung khoáng chất rồi được đưa trở lại ao nuôi. Một số ít hộ nuôi tôm siêu thâm canh có quỹ đất dồi dào đã dùng đến 50% diện tích đất để xử lý tiếp các thành phần gây ô nhiễm nước thay cho ao lắng cặn (đầm ngập nước,. Tuy nhiên, do diện tích hạn chế nên rất ít đơn vị hoặc hộ gia đình làm được theo cách này.
Chất lượng nước thải (nước xi phông bùn đáy) từ ao nuôi tôm được thể hiện trong Bảng 1. Chất lượng nước bùn đáy [5] STT Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả QCVN 02 - tính 19:2014/BNNPTNT 1.