Chương I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM Nghề nuôi tôm trên thế giới xuất hiện cách đây nhiều thế kỷ, nhưng nuôi tôm hiện đại mới chỉ bắt đầu vào những năm 1930 sau khi Motosaku Fujinaga công bố công trình nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo loài tôm he Nhật Bản [77]. Cùng với sự phát triển của khoa học, qui trình sản xuất tôm bột được hoàn chỉnh vào năm 1964. Sự chủ động được con giống đảm bảo chất lượng giúp cho nghề nuôi tôm phát triển nhanh chóng và bùng nổ vào thập niên 90 [71].
Trên thế giới Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn nhất là tây bán cầu (gồm các nước Châu Mỹ Latinh) và đông bán cầu (gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á). Theo Nguyễn Văn Hảo, 2000 thì năm 1997 ở khu vực tây bán cầu, Ecuador đạt được 130.000 tấn chiếm 66% tổng sản lượng tôm nuôi của khu vực. Khu vực đông bán cầu sản lượng tôm nuôi đạt 462.000 tấn chiếm 70% tôm nuôi trên thế giới. Trong đó, Thái Lan là nước đứng đầu, kế đến là Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam.
Các loài tôm được nuôi nhiều nhất là là tôm chân trắng (Penaeus vannamei), tôm sú (Penaeus monodon), tôm chân trắng Trung Quốc (P. Nuôi tôm đem lại lợi nhuận cao đã tạo nên những cơn “sốt tôm” kéo theo đó là các cơn “sốt đất” và “sốt vàng”. Chỉ trong vòng 2 – 3 năm người dân đã chuyển gần như toàn bộ vốn đất của họ sang ao tôm. Nhu cầu thị trường đối với tôm vẫn không ngừng tăng cao trong thời gian qua làm cho tôm có một giá trị hấp dẫn và ngành nuôi tôm thâm canh có đầu ra ổn định.
Lợi nhuận hấp dẫn và giá trị xuất khẩu cao của tôm nuôi đã tác động đến chính sách phát triển của một số nước nuôi tôm. Chính điều này đã làm cho nghề nuôi tôm được mở rộng và giá thành sản xuất tôm cũng thấp hơn các nước cạnh tranh rất nhiều. 6 Nghề nuôi tôm ở các nước châu Á tuy phát triển rất mạnh, đạt được kết quả bước đầu, nhưng đã phải sớm đối đầu với vấn đề dịch bệnh và sự suy thoái của môi trường nuôi. Thường các vùng nuôi tôm chỉ cho lợi nhuận cao trong vòng 2 đến 4 năm đầu, sau đó do bệnh dịch bộc phát, môi trường suy thoái, con tôm dễ bị bệnh, bệnh dịch tràn lan gây nhiều thiệt hại to lớn cho người nuôi và làm giảm diện tích, sản lượng tôm nuôi.
Nguyên nhân chính của việc giảm năng suất trầm trọng trên được xác định do phát triển nuôi nóng vội, các khu vực nuôi chỉ tập trung vào phát triển diện tích nuôi và tăng sản lượng trong các ao nuôi mà bỏ qua việc xử lý chất thải phát sinh trong quá trình nuôi. Sau một thời kỳ nuôi có hiệu quả, môi trường trong khu nuôi dần bị suy thoái dẫn đến tôm nuôi dễ bị mắc bệnh. Trước tình hình đó các nước đã thực hiện đầu tư nghiên cứu tìm các giải pháp để vực lại nghề nuôi, trong đó tập trung vào vấn đề quản lý và bảo vệ môi trường trong các khu nuôi được chú ý. Trung Quốc phải mất 10 năm để tổ chức lại nghề nuôi, dựa trên điều kiện thực tế của từng tiểu vùng để đưa ra mô hình và quy trình nuôi thích hợp và Trung Quốc đã trở thành nước có sản lượng tôm nuôi lớn nhất trên thế giới.
Tại Việt Nam Vào thập kỷ 70, ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam đều tồn tại hình thức nuôi tôm quảng canh. Theo Ling (1973) và Rabanal (1974), diện tích nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ này đạt khoảng 70. Ở Miền Bắc, trước năm 1975 có khoảng 15.000 ha nuôi tôm nước lợ. Nghề nuôi tôm Việt Nam thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi tôm thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước.
Đến giữa thập kỷ 90 (1994 – 1995), phát triển nuôi tôm ở Việt Nam có phần chững lại do gặp phải nạn dịch bệnh tôm. Trong các năm 1996 – 1999, bệnh dịch có giảm nhưng vẫn tiếp tục gây thiệt hại cho người nuôi. 7 Từ năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày 08/12/1999 phê duyệt Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999-2010 (Chương trình 224) và Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 (Nghị quyết 09) về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Những chính sách này có tầm quan trọng đặc biệt, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy sản nói riêng.
Giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng sản lượng thủy sản đạt 9,89%, thì nuôi trồng thủy sản đạt tới 17,96%, giá trị xuất khẩu thủy sản cũng tăng bình quân 12,23%/năm. Chương trình này cũng đã đánh dấu sự ra đời của phương thức nuôi tôm công nghiệp và thu hút đầu tư của các doanh nghiệp [2]. Năm 2016, Việt Nam xuất khẩu tôm sang 90 thị trường, giảm so với 92 thị trường của năm 2015, đạt kim ngạch 3,150 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm 2015. Trong đó, tôm chân trắng chiếm 62,1%, tôm sú chiếm gần 29,5%.
Việt Nam đứng thứ 3 về sản xuất tôm trên thế giới (sau Trung Quốc và Indonesia), với sản lượng từ 600.000 tấn/năm, và đã xuất khẩu tới gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam hiện là nhà cung cấp tôm lớn thứ nhất vào Nhật Bản, thứ 3 vào Hoa Kỳ, và thứ 4 vào EU, đồng thời dẫn đầu các nước cung cấp tôm trên thế giới về số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận BAP 4 sao. Xuất khẩu Việt Nam sang 10 thị trường lớn vẫn tăng trưởng khả quan. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 24,3%, sang Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc tăng lần lượt là 7,9%, 9,4%, 2,7% và 13,6% [2].
Tại tỉnh Bình Định Tỉnh Bình Định nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung bộ với tổng diện tích tự nhiên 605. Bình Định có địa hình đồng bằng ven biển phân bố kéo dài theo hướng song song với bờ biển tạo nên vòng cung ôm lấy vùng trung du và núi phía tây của tỉnh. Kiểu địa hình này phổ biến ở huyện 8 Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước,. vùng này có diện tích 198.453 ha, chiếm 32% đất toàn tỉnh.
Sát ven biển là khu vực cồn cát, lác đác gặp các hòn núi đảo sườn dốc nằm ngang trên bờ biển, tiếp sau khu vực cồn cát có nhiều đầm, vịnh, cửa biển. Những đầm phá lớn như đầm Trà Ổ, đầm Đề Gi, đầm Thị Nại. Dạng địa hình đầm phá sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể nếu được chú ý nghiên cứu đầu tư vào việc nuôi trồng khai thác các nguồn lợi thủy hải sản. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định Bình Định, cũng như một số tỉnh miền Trung khác, nuôi tôm nước lợ phát triển mạnh kể từ năm 2005.
Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đã tăng từ 102 ha năm 2005 lên 385 ha năm 2017, tốc độ tăng là do có sự phát triển diện tích tại vùng nuôi trên cát của huyện Phù Cát, Phù Mỹ và chuyển đổi diện tích từ 9 nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng tại TP. Quy Nhơn, huyện Tuy Phước và huyện Hoài Nhơn. Diện tích nuôi tôm sú, tăng từ 953 ha năm 2005 lên 1447,9 ha năm 2017 [13] (bảng 1). Diện tích nuôi tôm ở các khu vực thuộc tỉnh Bình Định năm 2017 Diện Diện tích Diện tích nuôi Diện tích TT Huyện, TP tích có nuôi tôm tôm thẻ chân nuôi tôm (ha) (ha) trắng (ha) sú (ha) 1 Quy Nhơn 208,30 223,20 16,80 206,40 2 Tuy Phước 971,10 969,30 86,80 882,50 3 Phù Cát 295,30 144,50 36,50 108,00 4 Phù Mỹ 522,10 375,00 124,00 251,00 5 Hoài Nhơn 237,90 120,90 120,90 0,00 Tổng cộng 2234,70 1832,90 385,00 1447,90 1.
NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH NUÔI TÔM Tuy đang nắm trong tay những thuận lợi, nhưng bản thân ngành thủy sản cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Đầu tiên là những vấn đề tác động trực tiếp đến ngành nuôi tôm: 1. Chịu tác động nặng nề của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu Ngành thủy sản đang bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Vào đầu năm 2016, do thời tiết nắng nóng và xâm nhập mặn, một số tỉnh như Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu đã bị thiệt hại khoảng 2.
Tình trạng các đập thủy điện ở thượng nguồn giữ và xả nước của dòng sông Mekong không theo quy luật cũng đang khiến chất lượng nước và độ mặn của nước biến động bất thường. Khoảng 80% diện tích nuôi tôm ở đồng bằng sông cửu long là tự phát, nuôi quy mô nhỏ. Thiếu quy hoạch đã gây ô nhiễm 10 môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân địa phương. Kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội như ô nhiễm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng, mâu thuẫn lợi ích trong việc chia sẻ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân,.
Tác động do sử dụng hóa chất và thức ăn nuôi tôm Trong quá trình nuôi tôm phần lớn lượng thức ăn mà người ta dùng để cho tôm ăn rất giàu thành phần đạm, trong quá trình chuyển hóa một phần được thải ra từ phân, còn một phần thức ăn dư thừa bị phân hủy là nguyên nhân gây nhiễm bẩn nguồn nước trong ao nuôi, gây hiện tượng phú nhưỡng. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho các loài tảo độc, các loài kí sinh cũng như các loài vi sinh vật gây hại cho tôm phát triển, từ đó hình thành các dịch bệnh nguy hiểm như bệnh vi khuẩn phát sáng, bệnh đốm trắng, bệnh co thân, bệnh vỏ trắng,… làm giảm năng suất và chất lượng ao tôm hay gây thất thu toàn bộ ao tôm nếu không khống chế kịp thời. Tại một số ao nuôi, người ta thường cho tôm ăn thức ăn tươi sống như cá, nhuyễn thể, trứng nghiền, tôm con chưa ăn hết được mà còn tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh, có hại phát triển, vô tình phá vỡ cơ cấu sinh thái nước ao. Trong ao nuôi tôm còn có chứa một ít dư lượng của các chất kháng sinh, dược phẩm, thuốc trị liệu và kích thích tố.
Do thiếu kiến thức về kĩ thuật nuôi thủy sản nên người nuôi tôm đã dùng kháng sinh bừa bãi khi tôm bị bệnh, trộn vào thức ăn cho tôm ăn. Các loại kháng sinh thường dùng là kháng sinh dùng cho thú y như tetracylin, penecilin, streptonycine,… với liều lượng sử dụng không được hướng dẫn cụ thể.