ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên quý giá mà con ngƣời có thể sử dụng và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Nƣớc đƣợc sử dụng trong hầu hết các hoạt động nông lâm ngƣ nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, giải trí, môi trƣờng. Hầu hết các hoạt động của con ngƣời đều cần đến nƣớc ngọt trong khi đó 97% bề mặt trái đất là nƣớc mặn, còn nƣớc ngọt chiếm 3%. Nƣớc là nguồn sống, là môi trƣờng đặc biệt cho tất cả các phản ứng sinh hóa, hóa học bên trong cơ thể sinh vật trên trái đất.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống, nƣớc còn có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động sống trên trái đất, nhƣng nƣớc không phải nguồn vô tận. Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn về tình trạng ô nhiễm nguồn nƣớc, không chỉ tại các khu công nghiệp và đô thị mà ở nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm này ở mức nặng nề do các làng nghề truyền thống và các cơ sở ngành nghề nông thôn ngày nay đang ngày càng gia tăng. Trong những thập niên gần đây cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất đã đẩy nhanh tốc độ ô nhiễm nguồn nƣớc. Một trong những nguồn ô nhiễm ở nƣớc ta là nƣớc thải từ các làng nghề truyền thống, đặc biệt là các làng nghề sản xuất thực phẩm.
Theo thống kê của Bộ NNPTNT, trên địa bàn cả nƣớc hiện có 4.575 làng nghề, trong số đó có 13,59 % là các làng nghề sản xuất thực phẩm, đây là loại hình sản xuất có nhu cầu sử dụng nƣớc lớn và phần lớn lƣợng nƣớc này đƣợc thải ra ngoài môi trƣờng mà chƣa qua bất kỳ một hệ thống xử lý nào. Là một trong những làng nghề truyền thống vốn có từ lâu đời của thành phố Hà Nội, làng nghề sản xuất bún Bặt cũng đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Từ trƣớc tới nay, nƣớc thải của làng nghề này vẫn đƣợc xả trực tiếp xuống một con mƣơng chung của làng mà không qua bất kỳ một hệ thống xử lý nƣớc thải nào. Nƣớc thải của làng nghề bún Bặt luôn trong tình trạng bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề với nồng độ photpho và hàm lƣợng BOD5, COD trong nƣớc thải rất lớn.
Do đặc thù của nƣớc thải sản xuất bún là ô nhiễm chất hữu cơ dễ phân hủy, nƣớc thải tồn đọng ở cống rãnh thƣờng bị phân 1 hủy yếm khí gây ô nhiễm không khí và ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm môi trƣờng đất và suy giảm chất lƣợng nƣớc ngầm. Vì vậy, việc xử lý nguồn nƣớc thải từ các quá trình sản xuất thực phẩm này là điều rất cần thiết để góp phần bảo vệ môi trƣờng nguồn nƣớc. Từ những vấn đề cấp thiết về tình trạng ô nhiễm nƣớc tại khu vực nông thôn, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sử dụng Bèo Lục Bình xử lý nước thải sản xuất bún tại xã Liên Bạt, Huyện Ứng Hòa, Thành Phố Hà Nội” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Làng nghề và ô nhiễm do làng nghề - Theo số liệu của Sở Công thƣơng thành phố Hà Nội đƣa ra vào năm ngoái, Hà Nội hiện có 1.350 làng nghề trong đó có 286 làng nghề truyền thống đƣợc công nhận. Số lƣợng làng nghề tập trung đông đúc trên địa bàn thành phố đang thải ra môi trƣờng ao hồ xung quanh một lƣợng nƣớc thải lớn. - Theo con số đƣợc công bố trong Báo cáo Hiện trạng Môi trƣờng Quốc gia năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (TNMT), tại các làng nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm trên địa bàn, lƣợng nƣớc thải sản xuất có nơi lên đến 7. Nơi ít nhất cũng thải ra môi trƣờng 1.
- Điều đáng nói là hầu hết nƣớc thải sản xuất tại các làng nghề tại Hà Nội đều đƣợc thải thẳng ra môi trƣờng với mức độ ô nhiễm ở mức rất cao mà không qua bất cứ hệ thống xử lý nào. Báo cáo của Bộ TNMT cho thấy, hàm lƣợng các chất ô nhiễm theo các chỉ số COD, BOD5 hay tổng số vi khuẩn Coliform trong nƣớc thải làng nghề đều vƣợt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần, cá biệt, có nơi lên tới hàng ngàn lần. - Với hàm lƣợng các chất ô nhiễm rất cao, việc xả thẳng nƣớc thải khối lƣợng lớn tại các làng nghề ra môi trƣờng đã khiến hệ thống nƣớc mặt cũng nhƣ nƣớc ngầm tại các làng nghề Hà Nội rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng trong nhiều năm qua.2 Làng nghề sản xuất bún và các vấn đề môi trƣờng liên quan 1. Giới thiệu về bún Hình 1.1 Bún món ăn ƣa thích của nhiều ngƣời (Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp 2017) Nghề làm bún là nghề truyền thống vốn có từ lâu và đến nay vẫn tiếp tục duy trì, phát triển.
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nghề làm bún ngày càng đƣợc các cơ sở cải tiến quy trình sản xuất, tăng năng suất và chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo sự yên tâm cho ngƣời tiêu dùng. Trong ẩm thực Việt Nam, bún là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng mềm, đƣợc làm từ tinh bột gạo tẻ, tạo sợi qua khuôn và đƣợc luộc chín trong nƣớc sôi. Bún là một nguyên liệu, thành phần chủ yếu để chế biến nhiều món ăn mà tên món ăn thƣờng có chữ bún ở đầu (nhƣ bún cá, bún mọc, bún chả, v.), bún là một trong những loại thực phẩm phổ biến nhất trong cả nƣớc, chỉ xếp sau các món ăn dạng cơm, bún là một trong những món ăn quen thuộc của ngƣời dân Việt Nam từ rất lâu. Bún thƣờng đƣợc sử dụng một cách rộng rãi và đa dạng với nhiều thực phẩm khác trong những dịp lễ, tết, đám tiệc, và trong các bữa ăn hằng ngày.
Bún còn là thành phần quan trọng không thể thiếu trong một số món ăn đặc sản của Việt Nam đƣợc du khách nƣớc ngoài rất ƣa chuộng là món gỏi cuốn. 4 Hiện nay, bún đã có mặt không những ở những nơi bình dân hay vỉa hè mà đã bƣớc vào trong các nhà hàng sang trọng, tạo cảm giác mới mẻ khi thƣởng thức các món ẩm thực Việt Nam. Do đó, bún ở Việt Nam vừa là món ăn sang trọng, vừa là món ăn bình dân. Bún có nhiều tên gọi khác nhau (dựa vào cách tạo hình) nhƣ bún rối, bún nắm, bún lá, bún đếm trăm (loại bún lá nhƣng nhỏ nhƣ con hến, bán từng trăm).
Mỗi miền, mỗi vùng dân cƣ, thậm chí mỗi nhà hàng lại có món bún khác nhau về thành phần thực phẩm, cách chế biến, chủng loại gia vị, bí quyết nhà nghề để có tên gọi riêng, cách ăn riêng, hƣơng vị riêng rất đặc trƣng của từng xứ sở. Bún đƣợc dùng để chế biến rất nhiều món ăn nhƣ bún thịt nƣớng hay bún chả, bún nem, bún ốc, bún thang, bún riêu, bún mọc, bún bò giò heo.2 Các vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề do sản xuất bún - Một trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở các làng nghề bún chính là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng - Làng nghề bún hiện nay sử dụng nhiên liệu than đá để sản xuất bún, việc sử dụng than đá để sản xuất gây ô nhiêm môi trƣờng không khí, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe con ngƣời do khí thải từ than đá có nhiều bụi than và các khí độc… - Trong quá trình sản xuất bún, lƣợng nƣớc thải từ các công đoạn ngâm lọc rất lớn: + Nƣớc vo gạo, nƣớc rửa gạo có màu đục sữa, chứa nhiều tinh bột, các vitamin và khoáng vi lƣợng chiếm khoảng 25-30% tổng lƣợng nƣớc thải. + Nƣớc rửa bún, làm nguội bún sau khi dùng chiếm khoảng 40% tồng lƣợng nƣớc thải. + Nƣớc vệ sinh máy xay, máy đùn sợi, vại lọc bột, vệ sinh nền khu xay bột có chứa lƣợng lớn tinh bột, cặn bẩn, cát thì nƣớc thải chiếm khoảng 20-23% tổng lƣợng nƣớc thải.
+ Phần còn lại là nƣớc sinh ra từ quá trình chế biến thức ăn, nƣớc thải từ hầm tự hoại,… 5 - Trong đó, phần lớn các hộ sản xuất bún ở các làng nghề chƣa xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải, việc xả thẳng nƣớc thải ra môi trƣờng ngoài gây ô nhiễm môi trƣờng sống, ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc ngầm, khiến nguồn nƣớc ngầm bị ô nhiễm. Đặc biệt là gây ra các bệnh đƣờng hô hấp, bệnh da liễu, cho ngƣời dân khi hít phải các mùi hôi thối, độc hại trong thời gian dài. - Nguồn ô nhiểm của nƣớc thải sản xuất bún chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy, các chỉ tiêu COD, BOD5, N,… vƣợt nhiều lần so với quy chuẩn cho phép, ngoài ra nƣớc thải sản xuất bún còn có mùi hôi thối rất khó chịu. Nƣớc thải và chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nƣớc thải 1.1 Phân loại nước thải - Khái niệm nước thải: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980 – 1995 và ISO 6107/1-1980 thì nƣớc thải là nƣớc đã đƣợc thải ra sau khi đã sử dụng hoặc đƣợc tại ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với giá trị đó.
- Phân loại nước thải: Thông thƣờng, nƣớc thải đƣợc phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là cơ sở lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý + Nƣớc thải sinh hoạt: Là nƣớc thải từ các khu dân cƣ, khu vực hoạt động thƣơng mại, khu vực công sở, trƣờng học, và các khu vực tƣơng tự khác, trong nƣớc thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ, chất tẩy rửa, váng dầu mỡ… + Nƣớc thải công nghiệp (nƣớc thải sản xuất): Là nƣớc thải từ các nhà máy, khu công nghiệp đang hoạt động, chứa nhiều kim loại nặng, hóa chất… + Nƣớc thấm qua: Là lƣợng nƣớc thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí. + Nƣớc thải tự nhiên: Nƣớc mƣa đƣợc xem nhƣ nƣớc thải tự nhiên ở các thành phố hiện đại, chúng đƣợc thu gom theo hệ thống riêng. + Nƣớc thải đô thị: Nƣớc thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống thoát của một thành phố, thị xã, đó là hỗn hợp của các loại nƣớc thải trên.
Tác động của nước thải sản xuất bún đến môi trường nước Ảnh hƣởng của pH Độ pH quá thấp sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận do các loài các loài vi sinh vật có trong nƣớc tự nhiên trong nƣớc bị kìm hãm phát triển.