Nghiên cứu xác định mức độ tồn lưu chất độc dioxin và hiệu quả xử lý tại sân bay Biên Hòa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus nghiên cứu xác định mức độ tồn lưu chất độc da cam dioxin và đánh giá hiệu quả thử nghiệm công, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Khoa Học Môi Trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

75
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam

1.2. Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam

1.3. Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng

1.4. Các phương pháp xử lý dioxin

1.4.1. Giải hấp nhiệt trong mố (In Situ Thermal Desorption- ISTD/IPTD)

1.4.2. Công nghệ Sinh học

1.4.3. Biên pháp chôn lấp

1.5. Kinh nghiệm trên thế giới áp dụng công nghệ cơ hóa trong xử lý dioxin

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tính toán khối lượng đất nhiễm dioxin cần phải xử lý tại sân bay Biên Hòa

2.3. Công nghệ Hóa-Cơ (MCD) xử lý đất bị ô nhiễm tại sân bay Biên Hòa

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa, thu thập và tổng hợp tài liệu

2.4.2. Phương pháp lấy mẫu

2.4.3. Phương pháp điều tra và nghiên cứu ngoài thực địa

2.4.4. Phương pháp chuyên gia

2.4.5. Phương pháp tính toán

2.4.6. Phương pháp phân tích tổng hợp đánh giá

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu, xác định mức độ ô nhiễm tại khu vực phía tây nam sân bay Biên Hòa (khu vực Pacer Ivy)

3.1.1. Nhiễm độc dioxin trong đất bề mặt

3.1.2. Nhiễm độc trong đất và trầm tích sâu

3.2. Đánh giá hiệu quả của công nghệ Hóa-Cơ xử lý dioxin

3.2.1. Kết quả phân tích đất trước và sau xử lý

3.2.2. Đánh giá hiệu quả xử lý

3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xử lý

3.3. Đề xuất giải pháp công nghệ xử lý dioxin tại Sân bay Biên Hòa

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa

Nghiên cứu xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa là một trong những nỗ lực quan trọng nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường do chất độc da cam gây ra. Từ năm 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã phun rải hàng triệu lít chất diệt cỏ có chứa dioxin tại miền Nam Việt Nam, trong đó sân bay Biên Hòa là một trong những điểm nóng ô nhiễm nặng nhất. Việc xác định mức độ ô nhiễm và áp dụng các công nghệ xử lý hiệu quả là cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

1.1. Tình hình ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa

Sân bay Biên Hòa được xác định là khu vực ô nhiễm dioxin nặng nhất tại Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy nồng độ dioxin trong đất và trầm tích tại đây vượt xa ngưỡng cho phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Cần có các biện pháp khẩn cấp để xử lý tình trạng này.

1.2. Tác động của ô nhiễm dioxin đến môi trường

Ô nhiễm dioxin không chỉ ảnh hưởng đến đất mà còn lan rộng ra các nguồn nước và thực phẩm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dioxin có thể tích tụ trong chuỗi thức ăn, gây ra nhiều bệnh tật cho con người và động vật. Việc xử lý dioxin là cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

II. Vấn đề và thách thức trong xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa

Việc xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của ô nhiễm. Các phương pháp xử lý hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu về hiệu quả và chi phí. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề này.

2.1. Khó khăn trong việc xác định mức độ ô nhiễm

Việc xác định chính xác mức độ ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa là một thách thức lớn. Các mẫu đất cần được lấy và phân tích một cách cẩn thận để có thể đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp.

2.2. Chi phí và thời gian xử lý

Chi phí xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa là một vấn đề đáng quan tâm. Các công nghệ hiện tại có thể tốn kém và mất nhiều thời gian để thực hiện. Cần tìm kiếm các giải pháp hiệu quả hơn về mặt kinh tế.

III. Phương pháp công nghệ hóa cơ trong xử lý dioxin

Công nghệ hóa cơ (MCD) là một trong những phương pháp được áp dụng để xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa. Phương pháp này sử dụng các thiết bị nghiền bi để phá hủy cấu trúc hóa học của dioxin, từ đó giảm thiểu nồng độ ô nhiễm trong đất.

3.1. Nguyên lý hoạt động của công nghệ hóa cơ

Công nghệ hóa cơ hoạt động dựa trên nguyên lý nghiền và trộn đất nhiễm dioxin với các chất hóa học, giúp phá hủy các liên kết hóa học của dioxin. Phương pháp này đã được thử nghiệm thành công tại nhiều quốc gia.

3.2. Kết quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ tại Biên Hòa

Kết quả thử nghiệm cho thấy công nghệ hóa cơ có khả năng giảm nồng độ dioxin trong đất xuống dưới ngưỡng cho phép. Các mẫu đất sau xử lý cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chất lượng môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa đã mở ra hướng đi mới cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường. Các ứng dụng thực tiễn từ công nghệ hóa cơ đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu ô nhiễm.

4.1. Ứng dụng công nghệ hóa cơ trong thực tiễn

Công nghệ hóa cơ đã được áp dụng thành công tại sân bay Biên Hòa, giúp giảm thiểu ô nhiễm dioxin. Các kết quả từ thử nghiệm cho thấy phương pháp này có thể được mở rộng áp dụng tại các khu vực ô nhiễm khác.

4.2. Đánh giá hiệu quả xử lý dioxin

Đánh giá hiệu quả xử lý dioxin cho thấy công nghệ hóa cơ có khả năng giảm nồng độ dioxin xuống dưới 1.000 ppt TEQ, đáp ứng yêu cầu của các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu xử lý dioxin

Nghiên cứu xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa đã đạt được những kết quả khả quan, mở ra hy vọng cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được đầu tư và phát triển để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tương lai của công nghệ xử lý dioxin

Công nghệ xử lý dioxin cần được nghiên cứu và phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường. Các giải pháp mới cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả xử lý.

5.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá sâu hơn về hiệu quả của công nghệ hóa cơ và các phương pháp xử lý khác. Việc hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cũng là điều cần thiết.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu xác định mức độ tồn lưu chất độc da cam dioxin và đánh giá hiệu quả thử nghiệm công nghệ hóa cơ xử lý dioxin tại khu vực sân bay biên hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm dioxin tại Việt Nam 1.1 Tình hình sử dụng chất diệt cỏ có chứa dioxin trong thời gian chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam Bảng 1.1: Số lượng các chất diệt cỏ đã được sử dụng tại miền Nam Việt Nam trong thời gian chiến tranh với Mỹ Đơn vị: lít Các chất: Tác giả Chất da cam Chất trắng Chất xanh tím, hồng, Tổng cộng xanh lá mạ Westing (1976) 44.920 Trong bảng này số liệu của Westing không bao gồm các chất tím, hồng và xanh mạ là những chất có hàm lượng dioxin rất cao (Bảng 1. Theo Young (2009), thì con số 74.920 lít là tổng số Mỹ đưa vào Việt Nam, đến năm 1972 theo kế hoạch Pacer Ivy đã đưa về nước 25.200 phi (loại 208 lít) chất da cam, tương đương 5.600 lít, còn lượng đã sử dụng là 74. Theo số liệu của Stellman (2003) thì số lượng tổng các chất diệt cỏ là 76.806 lít(~77 triệu) các chất, tương đương với 95.688 kg (~ 95 triệu kg), trong đó có 67% các chất chứa dioxin, mà chủ yếu là chất da cam với khối lượng 49,27 triệu lít, tương đương 63.688 kg các chất diệt cỏ này được phun rải lên 2,63 triệu ha chiếm 15,2% diên tích toàn miền Nam Việt Nam (172.000 ha, theo SIPRI, 1971). Nếu chỉ tính riêng các chất có hoạt chất 2,4,5-T, thì diện tích bị phun rải loại các chất này, cũng theo Stellman và cộng sự là 1,68 triệu ha, chiếm 9,7 % diện tích toàn miền Nam.

Từ các số liệu trên đây, có thể đánh giá mật độ phun rải như sau: Tất cả các chất là ~ 36 kg/ha, riêng các chất da cam với khối lượng 49.937 lít tương đương LUAN VAN CHAT LUONG download3 : add luanvanchat@agmail.240 kg, rải trên 1,68 triệu ha thì mật độ 37,5 kg/ ha, gấp 17 lần liều sử dụng trong nông nghiệp theo hướng dẫn của bộ lục quân mỹ năm 1969 là 2,2 kg/ha. Với mật độ này thì các chất diệt cỏ trở thành những chất độc phát quang và phá hoại mùa màng có tính hủy diệt. Theo ước tính có hơn 2,5 triệu ha rừng bị tác độc ở nhiều mức khác nhau gây ảnh hưởng nặng nề đến sinh thái rừng ở nam Việt Nam (Văn phòng 33,2007). Và hàng triệu nạn nhân chất độc da cam/dioxin với nhiều loại chứng bệnh khác nhau: ung thư, suy giảm miễn dịch, tai biến sinh sản, dị tật bẩm sinh, v.

Đặc biệt, ở một số sân bay như Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát, có những điểm bị ô nhiễm chất độc da cam/dioxin rất nặng (những “điểm nóng” về môi trường), hàm lượng dioxin trong đất, trong bùn ở đây cao hơn hàng trăm, có nơi hàng ngàn lần ngưỡng cho phép (TCVN 8183: 2009, 1000 ppt TEQ đối với đất, 150 ppt TEQ với trầm tích, bùn).2 Thực trạng ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng Theo các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay do Việt Nam và quốc tế phối hợp thực hiện đã xác định các sân bay quân sự Đà Nẵng, Phù Cát và Biên Hòa là ba điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin trong đất, trầm tích, động vật thủy sinh, chủ yếu là TCDD có nguồn gốc từ chiến tranh ở Việt Nam vốn được quân đội Mỹ sử dụng làm kho chứa, tập kết chất da cam/dioxin trước khi đi phun rải. Hai điểm nóng sân bay Đà Nẵng hiện đang được Bộ Quốc phòng Việt Nam phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) bằng ngân sách của Chính phủ Mỹ thực hiện; sân bay Phù Cát đã được xử lý trong năm 2012 bằng tài trợ của Quĩ Môi trường toàn cầu thông qua Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (gọi tắt là Dự án GEF/UNDP Dioxin). Riêng đối với sân bay Biên Hòa, do qui mô và tính chất ô nhiễm phức tạp và không đồng nhất. Vì vậy, đến nay vẫn chưa có biện pháp cụ thể xử lý đất nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa.

Tình trạng ô nhiễm dioxin tại khu vực sân bay Biên Hòa Các khu ô nhiễm trong sân bay quân sự Biên Hòa bao gồm Khu vực Pacer Ivy (Góc phía Tây sân bay); Khu vực Tây Nam (Góc Tây Nam sân bay); Khu Nam Z1 (bao gồm bãi chôn lấp Z1 và vùng xung quanh); Các hồ bên trong và bên ngoài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sân bay được xem là các nguồn ô nhiễm thứ cấp, các khu vực ô nhiễm được mô tả trong hình 1.1 Từ năm 2000, các nghiên cứu được mở rộng và với sự tài trợ của UNDP (Quỹ Ford), GEF (Quỹ môi trường toàn cầu), Ban 10-80/Hatfield (2007), TTNĐVNg/Hatfield (2009), Văn phòng 33/Hatfield/UNDP (2007,2010). Kết quả của các đợt khảo sát cho thấy nồng độ dioxin trong đất và trầm tích của khu vực Z1 là rất cao, với nồng độ cao nhất là 410.000 ppt TEQ trong đất và 5470 ppt (theo trọng lượng khô) trong trầm tích. Các đợt khảo sát tiếp theo vào năm 2004-2005 cho thấy nồng độ vẫn cao trong một vài mẫu trầm tích tại hồ 2, với nồng độ cao nhất trong mẫu trầm tích là 833 ppt TEQ. Trong chương trình khảo sát gần đây nhất vào tháng 1 năm 2008, hiện trạng ô nhiễm dioxin tại khu Z1 vẫn còn cao, với nồng độ TEQ của mẫu cao nhất là 262.

Ngoài ra, các khu vực phía tây nam sân bay và khu vực vành đai của Z1, nồng độ dioxin trong nhiều mẫu vượt quá ngưỡng 1. Đặc biệt các mẫu lấy tại vùng đất thấp ở cuối dốc của khu Z1 bao gồm các kênh rạch thoát nước, ao hồ tại đầu phía Nam của sân bay tiếp tục bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao. Cần có thêm các chương trình lấy mẫu và phân tích mẫu để có thể xác định chính xác thể tích đất và trầm tích cần được xử lý. Nồng độ dioxin tại khu vực Pacer Ivy (địa điểm do Bộ Quốc phòng Mỹ đề nghị khảo sát, nằm ở phía Tây Nam của sân bay) là tương đối cao, cho thấy khu vực này có thể đã được sử dụng để phun thuốc diệt cỏ trong chiến tranh Mỹ - Việt Nam.

Tuy nhiên số lượng mẫu lấy tại khu vực này còn hạn chế. Vì đây là một khu vực có diện tích lớn và có khả năng lan truyền ô nhiễm đến các hệ sinh thái nước qua hệ thống kênh rạch, nên cần thiết phải có những đánh giá kỹ lưỡng về mức độ ô nhiễm.Kết quả nghiên cứu được tổng hợp trong bảng 1. LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ năm 2000 của Bộ Quốc phòng, Văn phòng 33 và Ban 10-80. Số Nồng độ trung Khoảng nồng độ Tên dự án Vị trí Loại mẫu mẫu bình (tổng (n) TEQ) (tổng TEQ) Dự án Z1 Khu vực Z1 Đất 50 18750 ppt nd – 410000 ppt & Chương Trầm tích 3 2990 ppt 1380 – 5470 ppt trình 33; 2000, Hồ Cổng 2 Trầm tích 6 339 ppt 236 – 508 ppt 2001 Khu ruộng gần hồ Đất 12 137 ppt nd – 412 ppt Cổng 2 Trầm tích 2 52 ppt 44 – 50 ppt Hồ Biên Hùng Đất 8 83 ppt 5 – 256 ppt Trầm tích 9 107 ppt 59 – 210 ppt Đất 7 50 ppt 26 – 108 ppt Khu ruộng phường Quang Vinh Trầm tích 7 88 ppt 17 – 149 ppt Công ty Trầm tích - - 36 – 833 ppt Hatfield & Hồ phía Nam và hồ Ban 10- Biên Hùng 80, 2004- Đất - - nd - 425 ppt 05 Khu Z1 Đất 8 115390 ppt 109 – 262000 ppt Công ty Góc Tây Nam Đất 16 4617 ppt 4.12 – 65500ppt Hatfield & Khu vực Pacer Ivy Đất 11 2583 ppt 80,3 – 22800 ppt Văn phòng (Góc Tây Nam của 33, tháng đường bay) Trầm tích 4 2835 ppt 1090 – 5970 ppt 1 năm 2008 Vành đai khu Z1 Đất 30 1119 ppt 6,15 – 13300 ppt Trầm tích 1 413 ppt Ao hồ xung quang Trầm tích 5 966 ppt 20,9 – 2240 ppt khu Z1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Các khu vực ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa b. Tình trạng ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng Kết quả các nghiên cứu của Trung tâm Tư vấn Việt - Nga, Văn phòng Ban Chỉ đạo 33; Ban 10-80 phối hợp với công ty tư vấn Hatfield thực hiện từ năm 1997 đến năm 2012 Văn phòng 33/Hatfield/UNDP/Ban 10-80 (Hatfield/Ban 10-80 (1998, 2000, 2003, 2006, 2007,2011) tại khu vực sân bay Đà Nẵng như sau: - Khu kho chứa, khu rửa và khu nạp. Nồng độ TEQ lớn nhất trong đất được ghi nhận vào năm 2006 là 365.000 ppt trong các mẫu lấy tại khu trộn và nạp cũ, nồng độ này vượt giá trị giới hạn cao nhất (1. Ba mẫu phân tích có nồng độ TCDD > 100.000 ppt và 17 trong số 23 mẫu đất (74%) lấy tại sân bay có nồng độ > 1000 ppt.

- Nồng độ TCDD đo được trong tháng 1 năm 2009 lấy tại trung tâm và phía nam sân bay Đà Nẵng thấp hơn đáng kể so với các mẫu lấy tại phía bắc; trừ trường hợp ở khu kho chứa Pacer Ivy (PISA). Nồng độ TCDD cao chỉ bắt gặp ở một mẫu đất lấy tại vị trí gần khu vực PISA (20.600 ppt; 65% TCDD), và trong một mẫu cá (25,4 ppt TEQ) lấy tại hồ D phía nam sân bay vào năm 2009. LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com - Tại khu nhiễm sân bay Đà Nẵng, dioxin đã thấm sâu vào đất đến 150 cm: lớp đất 120-150 cm, có nồng độ TEQ là 952 ppt (n=5). Nghiên cứu hiện nay và các nghiên cứu trước đây của Hatfield/Ban 10-80 đã xác nhận rằng, nồng độ chất độc da cam dioxin cao nhất ở Việt Nam được tìm thấy trong đất ở lớp bề mặt 10 cm trên cùng; tại một số điểm nồng độ cao được tìm thấy ở độ sâu lớn hơn (ví dụ > 30 cm), nhưng chỉ trong các vùng bị giới hạn tại khu nạp và trộn cũ, khu kho chứa cũ, và PISA ở sân bay thành phố Đà Nẵng.

Trong nghiên cứu này, mặt cắt đứng ở khu kho chứa Pacer Ivy chỉ ra rằng nồng độ TEQ tăng theo độ sâu: 0-10 cm và 10-30 cm. - Theo hướng lan tỏa, dioxin tích tụ trong hồ Sen, trong bùn, động vật, thực vật thủy sinh: trong 3 hồ: hồ Sen A bị ô nhiễm dioxin nặng cần có biện pháp xử lý. Hồ B và hồ C: trong các mẫu bùn và cá nồng độ dioxin không cao, dưới 100 ppt TEQ. - Khu vực ngoài sân bay theo hướng lan tỏa: Đất khu dân cư, bùn trong các hồ Xuân Hà, hồ 29-3, sông Hàn, sông Cẩm Lệ, sông Phú Lộc có nồng độ dioxin thấp, dưới mức cho phép.

- Động vật, thực vật thủy sinh trong hồ Sen A có hàm lượng dioxin cao, trên ngưỡng cho phép, cần xử lý và không được sử dụng làm thực phẩm và thức ăn cho chăn nuôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu xử lý dioxin tại sân bay Biên Hòa: Đánh giá hiệu quả công nghệ hóa cơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp xử lý dioxin, một chất độc hại có nguồn gốc từ chiến tranh, đang ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả của công nghệ hóa cơ mà còn đề xuất các giải pháp khả thi để giảm thiểu ô nhiễm dioxin tại khu vực sân bay Biên Hòa.

Đối với những ai quan tâm đến tác động của dioxin và các phương pháp xử lý, bài viết này là một nguồn tài liệu quý giá. Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích sàng lọc calux trong đánh giá mức độ ô nhiễm dioxin, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp phân tích ô nhiễm dioxin tại Việt Nam, hoặc Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích sắc ký khí khối phổ gc ms xác định hàm lượng dioxin trong đất, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc xác định hàm lượng dioxin trong đất tại sân bay Biên Hòa. Cuối cùng, tài liệu Phân tích dioxin trong mẫu sữa mẹ cũng sẽ cung cấp cái nhìn về ảnh hưởng của dioxin đến sức khỏe cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề ô nhiễm dioxin và các giải pháp xử lý hiệu quả.