Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã phun rải hơn 74 triệu lít chất diệt cỏ chứa khoảng 366 kg dioxin xuống chiến trường miền Nam Việt Nam. Sau hơn năm thập kỷ, hậu quả ô nhiễm chất độc da cam/dioxin vẫn là thách thức môi trường nghiêm trọng hàng đầu, đặc biệt tại ba điểm nóng căn cứ không quân gồm Phù Cát, Đà Nẵng và Biên Hòa. Trong đó, sân bay Biên Hòa được xác định là khu vực ô nhiễm nặng nề và phức tạp nhất với nguy cơ lan truyền sinh thái cao. Tuy nhiên, trước năm 2012, các khu vực rủi ro cao như góc Tây Nam đường băng (khu vực Pacer Ivy) vẫn chưa được khoanh vùng chi tiết và tính toán chính xác khối lượng đất ô nhiễm để xây dựng phương án xử lý triệt để.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Trần Hồng Cơ tập trung thực hiện hai mục tiêu cốt lõi: khảo sát, xác định mức độ tồn lưu dioxin tại khu vực Pacer Ivy nhằm tính toán chính xác thể tích đất cần xử lý; đồng thời đánh giá hiệu quả thực nghiệm của công nghệ Hóa - Cơ (Mechano-Chemical Destruction - MCD) trong việc phân hủy dioxin trong đất. Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên diện tích 150.000 m2 tại sân bay Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2012–2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi lượng hóa khối lượng đất ô nhiễm lên đến 90.000 m3 và kiểm chứng hiệu suất phân hủy của hệ thống MCD với mục tiêu hạ hàm lượng độc chất xuống dưới ngưỡng 1.000 ppt TEQ theo quy chuẩn TCVN 8183:2009, tạo tiền đề quan trọng cho chiến lược xử lý ô nhiễm dioxin quy mô lớn tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân hủy cơ hóa học (Mechano-Chemical Destruction - MCD) và động học bẻ gãy liên kết clo-cacbon của các hợp chất hữu cơ khó phân hủy theo Công ước Stockholm. Khi vật liệu đất được nạp vào buồng nghiền bi năng lượng cao ở dải nhiệt độ vận hành từ 100°C đến 180°C, các va chạm cơ học cường độ mạnh tạo ra hiện tượng đứt gãy tinh thể khoáng, kích thích đám mây electron tự do và các gốc ion phản ứng bẻ gãy liên kết của phân tử 2,3,7,8-TCDD thành các hợp chất vô cơ và chất trung gian không độc hại.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường địa chất và thủy văn bề mặt để mô hình hóa cơ chế rửa trôi dioxin từ điểm nguồn phát sinh theo dòng chảy mặt vào các kênh mương, ao hồ. Bốn khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Tổng nồng độ độc tương đương (TEQ), độc chất 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD), hiệu suất phá hủy chất ô nhiễm (DRE) và độ ẩm tới hạn của đất sấy khô dưới 2%.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm bao gồm 104 mẫu đất và trầm tích thu thập trực tiếp tại thực địa khu vực Pacer Ivy, gồm 43 mẫu bề mặt, 48 mẫu theo chiều sâu phân tầng từ 0 cm đến 240 cm và 13 mẫu kiểm soát chất lượng QA/QC (8 mẫu lặp, 2 mẫu trắng di chuyển và 3 mẫu trắng hiện trường). Thiết kế lấy mẫu dựa trên phương pháp lưới ô vuông chuẩn 50m x 50m bao phủ toàn bộ 150.000 m2 kết hợp phương pháp lấy mẫu theo tuyến dòng chảy thủy văn nhằm bảo đảm tính đại diện không gian và khoanh định chính xác ranh giới ô nhiễm. Đặc biệt, nghiên cứu ứng dụng thiết bị khoan lấy mẫu đa chiều ngập sâu tới 3,2 m do Phòng thí nghiệm Dioxin cải tiến nhằm ngăn ngừa hiện tượng nhiễm chéo giữa các tầng đất.

Phương pháp phân tích định lượng dioxin sử dụng kỹ thuật sắc ký khí phân giải cao ghép khối phổ phân giải cao (HRGC/HRMS) tại Phòng thí nghiệm Dioxin thuộc Tổng cục Môi trường và đối chứng chéo cùng Phòng thí nghiệm AXYS theo tiêu chuẩn quốc tế EPA 1613B. Để đánh giá thực nghiệm công nghệ MCD trên 110 tấn đất qua 42 mẻ xử lý, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến nhằm giải thích mối tương quan giữa các thông số độc lập gồm tốc độ nạp đất (100–900 kg/h), tốc độ quay lò phản ứng (250–375 vòng/phút) và tỷ lệ phụ gia cát thạch anh (0–5%) với hiệu suất phân hủy dioxin. Quá trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2012–2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm dioxin trong đất bề mặt tại khu vực Pacer Ivy ở mức đặc biệt nghiêm trọng. Kết quả phân tích ghi nhận 34/43 mẫu bề mặt (chiếm tỷ lệ 79%) có nồng độ vượt ngưỡng an toàn 1.000 ppt TEQ. Đỉnh ô nhiễm cao nhất xuất hiện tại vị trí 11BH-K7 thuộc lô P4 với giá trị 962.560 ppt TEQ, gấp gần 1.000 lần tiêu chuẩn cho phép, trong đó hàm lượng đồng phân độc hại nhất là 2,3,7,8-TCDD chiếm tỷ trọng áp đảo từ 84,4% đến 98,6%.

Thứ hai, ô nhiễm dioxin ngấm sâu và phân bố phức tạp theo cấu trúc địa tầng. Tại điểm nguồn P4, mẫu lõi 11BH-K7 ghi nhận nồng độ 392.000 ppt TEQ ở độ sâu 30–60 cm. Trong khi đó, mẫu 11BH-H6 liền kề đạt nồng độ cực đại ở tầng 60–90 cm và khi xuống tới độ sâu 180 cm vẫn duy trì mức ô nhiễm 8.000 ppt TEQ, cao gấp 8 lần quy chuẩn xử lý. Kết quả lấy mẫu trầm tích tại các mương thoát nước như 11BH-C3 và 11BH-AB1 cho thấy hàm lượng dao động từ 1.725 đến 2.677 ppt TEQ, khẳng định dioxin đang lan tỏa mạnh mẽ theo hướng dòng chảy từ P4 sang các khu vực thấp P1 và P2.

Thứ ba, nghiên cứu đã lượng hóa chính xác diện tích và thể tích đất ô nhiễm. Trên cơ sở mô hình hóa 30 lô đất kích thước 50m x 50m có nồng độ vượt ngưỡng, tổng diện tích đất cần bốc xúc xử lý được xác định là 75.000 m2. Với độ sâu nhiễm độc trung bình 1,2 m, tổng khối lượng đất ô nhiễm tại khu vực Pacer Ivy ước tính là 90.000 m3, vượt qua quy mô 72.900 m3 đất bùn đã xử lý tại sân bay Đà Nẵng khoảng 23,4%.

Thứ tư, thử nghiệm công nghệ Hóa - Cơ (MCD) trên 16 mẻ đất nhiễm nồng độ cao ban đầu (28 tấn) cho thấy nồng độ dioxin trung bình giảm từ 111.392 pg/g TEQ xuống 49.238 pg/g TEQ, tương đương hiệu suất phá hủy trung bình 63,77%, trong đó hiệu suất cao nhất đạt mức 94,05%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân khiến nồng độ dioxin tại Pacer Ivy duy trì ở mức cực kỳ cao xuất phát từ lịch sử sử dụng khu vực này làm bãi lưu trữ và trung chuyển chất khai hoang trong chiến dịch quân sự trước năm 1972. Sự không đồng nhất về nồng độ theo chiều sâu phản ánh đặc điểm địa tầng pha cát và tác động của lượng mưa lớn gây rửa trôi qua các cống dẫn ngầm. Về mặt công nghệ, hệ số phá hủy dioxin của hệ thống MCD đạt cực đại 94,05% chứng minh lực va đập cơ học từ bi thép kết hợp cát thạch anh có khả năng phá vỡ cấu trúc vòng benzen thơm chứa clo. Tuy nhiên, hiệu suất trung bình 63,77% ở đất nồng độ cao cho thấy tốc độ nạp đất lớn (trên 500 kg/h) và thời gian lưu chưa đủ là rào cản khiến nồng độ đầu ra chưa đạt ngưỡng dưới 1.000 ppt TEQ.

Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa sinh động qua bản đồ GIS phân vùng nồng độ TEQ 2D theo lưới 50m x 50m và các biểu đồ đường biểu diễn sự suy giảm nồng độ dioxin qua từng mẻ xử lý từ mẻ 1 đến mẻ 16. Khi so sánh với công nghệ giải hấp nhiệt trong mố (IPTD) với chi phí đầu tư lên tới 84 triệu USD tại Đà Nẵng hay biện pháp chôn lấp cô lập 7.500 m3 tại Phù Cát, công nghệ MCD thể hiện ưu thế vận hành ở nhiệt độ thấp dưới 180°C, kiểm soát an toàn khí thải qua tháp than hoạt tính và không tạo sản phẩm cháy thứ cấp độc hại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng hệ thống đê bao cô lập và kênh thu gom dòng chảy tràn tạm thời quanh khu vực P4 và các mương thoát nước P1-P2. Đơn vị chủ trì là Bộ Quốc phòng phối hợp cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, đặt mục tiêu hoàn thành trong 6 tháng nhằm ngăn chặn 100% nguy cơ lan truyền dioxin ra khu vực dân sinh và nguồn nước ngầm lân cận.

Thứ hai, áp dụng mô hình công nghệ kết hợp theo phân dải nồng độ cho toàn bộ 90.000 m3 đất ô nhiễm tại Pacer Ivy. Ban Quản lý Dự án Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phân chia khối lượng xử lý thành ba nhóm: dải nồng độ cực cao (>10.000 ppt TEQ) xử lý bằng công nghệ nhiệt hoặc phân hủy Hóa - Cơ cải tiến; dải trung bình (2.000–10.000 ppt TEQ) áp dụng hệ thống MCD liên hoàn; và dải thấp (<2.000 ppt TEQ) kết hợp rửa đất và chôn lấp an toàn, thực hiện trong lộ trình 2015–2020 để đưa 100% thể tích đất sau xử lý về dưới 1.000 ppt TEQ theo chuẩn TCVN 8183:2009.

Thứ ba, tối ưu hóa các thông số kỹ thuật vận hành của dây chuyền công nghệ Hóa - Cơ. Nhóm kỹ sư vận hành và đơn vị chuyển giao công nghệ cần điều chỉnh tốc độ nạp liệu xuống mức 200–300 kg/h, duy trì vận tốc quay lò phản ứng ở mức 300–375 vòng/phút, bổ sung tỷ lệ cát thạch anh hoạt tính từ 3% đến 5% khối lượng khô và kiểm soát độ ẩm đất sấy dưới 1,5% nhằm nâng hiệu suất phá hủy dioxin đạt trên 95% trong 3 tháng thử nghiệm mở rộng.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường không khí và thủy văn tự động. Tổng cục Môi trường chủ trì phối hợp với các viện nghiên cứu tiến hành lấy mẫu định kỳ 3 tháng một lần để giám sát nồng độ bụi phát tán tại khu vực sấy nghiền và kiểm tra dư lượng dioxin trong các giếng quan trắc nước ngầm quanh sân bay, duy trì ngưỡng an toàn dioxin nước mặt dưới 0,13 pg/L theo tiêu chuẩn quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Quốc phòng và Bộ Tài nguyên và Môi trường: Luận văn cung cấp số liệu thực địa chính xác về diện tích 75.000 m2 và thể tích 90.000 m3 đất ô nhiễm, làm cơ sở khoa học cốt lõi để phê duyệt báo cáo khả thi và dự toán ngân sách cho dự án tổng thể tẩy độc dioxin tại sân bay Biên Hòa.

Thứ hai, các kỹ sư môi trường và doanh nghiệp công nghệ xử lý chất thải nguy hại: Tài liệu cung cấp thông số kỹ thuật chi tiết của hệ thống nghiền bi 4 lò quay nối tiếp, tốc độ quay 250–375 vòng/phút, định mức phụ gia và dữ liệu phân hủy thực tế của 42 mẻ đất, hỗ trợ trực tiếp cho công tác thiết kế module xử lý POPs quy mô công nghiệp.

Thứ ba, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường và Địa chất: Đề tài là nguồn tham khảo mẫu mực về phương pháp thiết kế mạng lưới lấy mẫu địa tầng sâu 3,2 m, quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt với 13 mẫu QA/QC và kỹ thuật phân tích hồi quy tuyến tính đa biến trong xử lý số liệu môi trường.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển như UNDP, GEF và USAID: Luận văn cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng ô nhiễm và hiệu quả thực nghiệm công nghệ MCD, phục vụ đắc lực cho công tác thẩm định tài trợ vốn ODA và chuyển giao công nghệ xử lý ô nhiễm tồn lưu chiến tranh tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Sân bay Biên Hòa có mức độ ô nhiễm dioxin nghiêm trọng như thế nào so với các điểm nóng khác?

Sân bay Biên Hòa là điểm nóng ô nhiễm dioxin lớn nhất Việt Nam do từng là căn cứ lưu trữ và trung chuyển chính của chiến dịch phun rải hóa chất. Nồng độ dioxin trong đất tại đây từng ghi nhận giá trị kỷ lục 962.560 ppt TEQ, cao hơn nhiều so với sân bay Đà Nẵng (365.000 ppt TEQ) và sân bay Phù Cát (236.000 ppt TEQ).

Nguyên lý phá hủy dioxin của công nghệ Hóa - Cơ (MCD) là gì?

Công nghệ MCD sử dụng thiết bị nghiền bi năng lượng cao tạo ra lực ma sát và va đập cực lớn ở nhiệt độ dưới 180°C. Lực cơ học này phá vỡ cấu trúc tinh thể khoáng của đất, kích hoạt các gốc tự do phản ứng bẻ gãy trực tiếp các liên kết clo-cacbon trên phân tử dioxin, chuyển hóa chúng thành các hợp chất muối vô cơ không độc hại.

Tổng khối lượng đất nhiễm dioxin cần xử lý tại khu vực Pacer Ivy là bao nhiêu?

Dựa trên kết quả khảo sát 104 mẫu đất và trầm tích, nghiên cứu xác định diện tích ô nhiễm bề mặt vượt ngưỡng là 75.000 m2 trên tổng số 150.000 m2 khảo sát. Với độ sâu nhiễm độc trung bình 1,2 m, tổng khối lượng đất cần đào xúc xử lý tại khu vực Pacer Ivy ước tính lên đến 90.000 m3.

Hiệu suất phân hủy dioxin của công nghệ MCD trong đợt thử nghiệm thực tế đạt mức nào?

Trong đợt thử nghiệm xử lý 16 mẻ đất nồng độ cao (28 tấn), công nghệ MCD đạt hiệu suất phá hủy trung bình 63,77%, với giá trị cao nhất đạt 94,05%. Nồng độ dioxin trung bình của đất sau xử lý giảm mạnh từ 111.392 pg/g TEQ ban đầu xuống còn 49.238 pg/g TEQ.

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8183:2009 quy định ngưỡng dioxin an toàn là bao nhiêu?

Quy chuẩn TCVN 8183:2009 quy định ngưỡng nồng độ dioxin tối đa cho phép đối với đất tại các khu vực bị ô nhiễm nặng là 1.000 ppt TEQ và đối với bùn trầm tích là 150 ppt TEQ. Đây là căn cứ pháp lý bắt buộc để khoanh vùng, bốc xúc và đánh giá nghiệm thu hiệu quả xử lý tẩy độc môi trường.

Kết luận

• Xác định thực trạng ô nhiễm đất bề mặt khu vực Pacer Ivy ở mức báo động với 79% số mẫu vượt ngưỡng an toàn và nồng độ cực đại đạt 962.560 ppt TEQ tại điểm nguồn P4. • Thiết lập bản đồ địa tầng và tính toán chính xác tổng khối lượng đất nhiễm dioxin cần xử lý là 90.000 m3 trên diện tích ô nhiễm 75.000 m2. • Kiểm chứng thực nghiệm thành công công nghệ Hóa - Cơ (MCD) với 42 mẻ xử lý, ghi nhận hiệu suất phá hủy dioxin đạt đỉnh 94,05%. • Xây dựng mô hình hồi quy đa biến tối ưu hóa các thông số kỹ thuật then chốt gồm tốc độ nạp liệu, vòng quay lò và tỷ lệ phụ gia cát thạch anh. • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ việc xây dựng dự án tổng thể xử lý triệt để dioxin tại sân bay Biên Hòa.

Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2015–2020 cần tập trung hoàn thiện thiết kế kỹ thuật, nâng cấp công suất lò phản ứng cơ hóa và triển khai các giải pháp cô lập dòng chảy bề mặt nhằm bảo vệ an toàn sinh thái cho cộng đồng dân cư. Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế hãy chung tay thúc đẩy hợp tác, đầu tư nguồn lực tài chính và công nghệ để sớm làm sạch hoàn toàn điểm nóng dioxin Biên Hòa.