Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm bệnh sốt xuất huyết Dengue và vector truyền bệnh Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD): Là bệnh truyền nhiễm nhóm B (1) do virusvirus Dengue gây ra và muỗi cái Aedes là vector truyền bệnh (2). Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết và thoát huyết tương, có thể sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.
Bệnh SXHD có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: Giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Chẩn đoán SXHD bằng phương pháp huyết thanh học (xét nghiệm nhanh, xét nghiệm ELISA) hoặc xét nghiệm PCR để phân lập virus (11). Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên điều trị SXHD chủ yếu là điều trị triệu chứng và hiện nay vẫn chưa có vắc xin phòng SXHD nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu (12) là: Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy, phòng chống muỗi đốt, phun hóa chất phòng, chống dịch (11) (13).
Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn (11). Vector truyền bệnh SXHD: Chu kỳ phát triển của muỗi Aedes gồm 4 giai đoạn: Trứng – Bọ gậy – Lăng quăng – Muỗi trưởng thành. Trong đó 3 giai đoạn đầu sống trong nước, chỉ có giai đoạn muỗi trưởng thành sống trên cạn.
aegypti gặp ở hầu hết các thành phố, thị trấn, vùng nông thôn và cả vùng miền núi, cao nguyên. albopictus thường dễ dàng tìm thấy ở khu vực miền Bắc. Giám sát dịch tễ học SXHD gồm có giám sát muỗi và giám sát bọ gậy. Chỉ số giám sát thực hiện theo hướng dẫn điều tra véc tơ SXHD của WHO (3) và Quyết định số 3711/2014/QĐ-BYT ngày 19/09/2014 (14) và báo cáo theo Thông tư 54/2015/TT- 5 BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế (15) theo dõi bọ gậy của muỗi, mật độ muỗi để đánh giá được nguy cơ xảy dịch SXHD ở địa phương và can thiệp ổ dịch kịp thời: - Giám sát muỗi trưởng thành gồm có: Chỉ số mật độ muỗi Aedes aegypti (DI) (Số muỗi cái Ades trung bình trong một nhà điều tra) và Chỉ số nhà có muỗi (CSNCM) (Tỷ lệ phần trăm nhà có muỗi cái Ades trưởng thành).
- Giám sát bọ gậy: Được thực hiện 1 tháng/lần, sau khi bắt muỗi tiến hành điều tra bọ gậy bằng quan sát, ghi nhận toàn bộ dụng cụ chứa nước trong và quanh nhà. Việc giám sát này nhằm mục đích xác định nguồn phát sinh chủ yếu của lăng quăng/bọ gậy của từng địa phương. Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy gồm: Chỉ số nhà có bọ gậy (House Index - HI): là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy; Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (Container Index - CI) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa nước có bọ gậy; Chỉ số Breteau (Breteau Index - BI) là số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra; Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG) là số lượng bọ gậy trung bình cho 1 hộ gia đình điều tra. Chỉ số CSMĐBG chỉ sử dụng khi điều tra ổ bọ gậy nguồn (14).
Bộ Y tế Việt Nam quy định chỉ số mật độ muỗi (DI) ≥0,5 và chỉ số Breteau ≥30 là vượt ngưỡng nguy cơ cần can thiệp phun hóa chất diệt (3). Một số khái niệm về thời tiết và các yếu tố của thời tiết Thời tiết: Là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển, gió, độ ẩm ở một thời điểm, một khoảng thời gian xác định. Những yếu tố đặc trưng của thời tiết như: Nhiệt độ không khí, khí áp, độ ẩm, lượng mây, giáng thùy, gió và các hiện tượng giông bão, sương mù, gió tây khô nóng được gọi là những yếu tố khí tượng. Khí hậu: Là thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài, khí hậu cũng bao gồm các số liệu thống kê theo ngày, tháng hoặc năm khác nhau.
Khí hậu là bảng thống kê mô tả định kỳ về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm. Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm. Khí hậu là tổng hợp các điều kiện thời 6 tiết ở một khu vực nhất định, đặc trưng bởi các đại lượng thống kê dài hạn của các yếu tố khí tượng tại khu vực đó. Nhiệt độ không khí: Là đặc trưng cho chuyển động nhiệt của các phân tử không khí trong khí quyển (đơn vị tính là oC) (16).
Nhiệt độ trung bình ngày là bình quân của nhiệt độ qua 4 lần đo tại trạm quan trắc vào các thời điểm 1 giờ, 7 giờ, 13 giờ và 19 giờ. Nhiệt độ trung bình tháng là số bình quân của nhiệt độ qua các ngày trong tháng. Độ ẩm không khí: Là lượng hơi nước tính bằng gram trong 1m3 không khí. Độ ẩm tương đối tính bằng % (16).
Lượng mưa: Là độ dày tính bằng mm của lớp nước do mưa trên mặt ngang bằng và chưa bốc hơi/ngấm/chảy đi mất (16). Lượng mưa trung bình của ngày là số trung bình cộng lượng mưa của 4 thời điểm đo trong ngày (1 giờ, 7 giờ, 13 giờ và 19 giờ). Xu hướng thời tiết, bệnh sốt xuất huyết Dengue, vector truyền bệnh 1. Trên Thế giới Nghiên cứu tác giả Chakravarti và cộng sự (2005) với mục tiêu “Tìm ra mối quan hệ của nhiễm trùng sốt xuất huyết với khí hậu các yếu tố như lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm tương đối trong thời kỳ dịch SXHD ở Delhi năm 2003” với cỡ mẫu 893 ca SXHD được xác định thông qua xét nghiệm huyết thanh học 1550 mẫu máu của các bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ SXH tại bệnh viện Lok Nayak – Delhi.
Và dữ liệu về thời tiết (lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm tương đối) được thu thập chi tiết từng tháng của năm 2003 và được chia làm 3 giai đoạn: Thời kỳ trước gió mùa (tháng 2 đến tháng 5), thời kỳ gió mùa (tháng 6 đến tháng 9) và hậu thời kỳ gió mùa (tháng 10 đến tháng 1) (17). Nhiệt độ môi trường xung quanh trung bình thời kỳ trước gió mùa là 25,4°C trong tăng lên 30,9°C trong thời kỳ gió mùa trước khi dịch SXHD bùng phát và giảm xuống 20,3°C trong những tháng bùng phát thời kỳ sau gió mùa. Sự khác biệt giữa tương đối độ ẩm trong ba thời kỳ không đáng 7 kể, độ ẩm tương đối trung bình trong các thời kỳ trước, trong và sau gió mùa lần lượt là 71,2% ,85%, 90% (17). Bệnh SXHD trên toàn cầu có tốc độ gia tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây từ 505.430 ca năm 2000, lên hơn 2,4 triệu ca năm 2010 và 4,2 triệu ca vào năm 2019.
Số ca tử vong được báo cáo giữa năm 2000 và 2015 tăng từ 960 lên 4. Năm 2019, WHO đã xếp sốt xuất huyết Dengue là một trong mười mối đe dọa sức khỏe hàng đầu trên toàn thế giới với tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh là 40% người trên thế giới với khoảng 300 triệu người mắc mỗi năm trong đó 20% tử vong đối với người sốt xuất huyết nặng (18). Hiện nay, số lượng mắc tăng gấp 30 lần trong 50 năm qua (4), có khoảng 3,9 tỷ người ở 129 quốc gia có nguy cơ mắc bệnh SXHD ở Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương (3). Tỷ lệ các ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần so với khu vực Châu Mỹ (19) Việt Nam là những nước có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong khu vực này (20).
Nhận thức sự thay đổi về mật độ, phân bố, độ nhạy cảm của vector để xây dựng chiến lược phòng chống vec tơ. Các nghiên cứu về vector truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue đã xác định muỗi Ae. aegypti là vector truyền bệnh chủ yếu (22). Tại Việt Nam Nghiên cứu về “Liên quan giữa vector truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue, sốt rét với biến đổi khí hậu” của tác giả Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự (năm 2014) tại 7 huyện ven biển tỉnh Kiên Giang khi phân tích số liệu thống kê từ năm 2003-2014 và sử dụng mô hình của Dana Focks để phân tích mối liên quan giữa sự gia tăng vector truyền bệnh SXHD và biến đối khí hậu cho thấy: Chỉ số Breteau tăng dần từ tháng 4 (29,3) đến tháng 7 (126,5) và giảm dần và thấp nhất ở tháng 1 (chỉ 7,9).
Chỉ số nhà có loăng quăng cao nhất ở tháng 5 (220,9) đến tháng 7 (58,5) sau đó giảm dần và thấp nhất ở tháng 1 (5,7). Tỷ lệ % dụng cụ chứa nước có loăng quăng tăng dần từ tháng 1 (2,1) và tháng 7 là tháng cao nhất (28,6). Chỉ số mật độ loăng quăng đạt 0,8 ở tháng 6 và 0,1 ở tháng 2, các tháng còn lại bằng 0. Chỉ số mật độ muỗi cao nhất ở tháng 7 (20,2) , thấp nhất ở tháng 1 (0,1), các tháng khác giao động từ 0,4 đến 1,7.
Chỉ số nhà có muỗi cao từ tháng 5 đến tháng 9, đỉnh ở tháng 7 (29,9), thấp 8 nhất ở tháng 2 (4,3) và tháng 1 (4,3) (21). Số lượng loăng quăng và muỗi Ae.aegypti tăng cao vào những tháng mùa mưa (từ tháng 4 và đạt đỉnh vào tháng 7) và giảm thấp vào những tháng mùa khô (thấp nhất ở tháng 1). Huyện An Biên, An Minh có các chỉ số DI, HI, BI, CI cao vào cả mùa mưa và mùa khô. Sử dụng mô hình của Dana Focks khi phân tích mối liên quan giữa sự gia tăng vector và biến đổi khí hậu cho thấy lượng mưa và nhiệt độ theo mùa ảnh hưởng đến sự phát triển của vector.
Có sự chênh lệch về chỉ số HI và DI của các huyện trong mùa mưa và mùa khô, mùa mưa các chỉ số về mật độ muỗi có xu hướng tăng cao hơn (r=0,65). Vector truyền bệnh thường phụ thuộc vào yếu tố khí hậu của một số tháng quan trọng trong năm. Sự thay đổi nhiệt độ trong từng tháng trong năm là không đáng kể (xấp xỉ 0,50C) nhưng so với năm thì có sự thay đổi rõ rệt. Vector truyền bệnh gia tăng từ tháng 5-11 nhưng mối tương quan lại xuất hiện sớm với nhiệt độ của tháng trước đó (tháng 3-4).
Tương tự, nhiệt độ có độ trể về tương quan với các chỉ số của mật độ vector truyền bệnh khoảng 2-3 tháng thì lượng mưa có tương quan trễ khoảng 1 tháng, mối tương quan này là cao ở tháng 8 (21).