Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới Nghiên cứu về Sồi phảng trên thế giới còn rất hạn chế, đặc biệt là về chọn giống và kỹ thuật gây trồng. Các công trình nghiên cứu đã có mới chỉ tập trung vào phân loại, mô tả hình thái và đặc điểm phân bố của chúng, có thể tổng hợp kết quả nghiên cứu đối với loài cây này như sau. Nghiên cứu về phân loại thực vật Cây Sồi phảng (Lithocarpus fissus (Champ.Camus) là cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae), chi Lithocarpus. Tên chi Lithocapus có nguồn gốc từ đặc điểm hạt có hình dạng tương tự như quả đấu nhưng vỏ rất cứng, từ "Lithos" trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là đá và từ "carpos" trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là hạt giống [45].
Trên thế giới, họ Dẻ (Fagaceae) có khoảng 900 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhưng chưa thấy ở Nam Phi. Phân bố tập trung nhất là ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài, ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Khamleck Xaydala, 2004) [35]. Nghiên cứu về phân loại, theo Bentham và Hooker (1862-1885) (dẫn theo Nguyễn Tiến Bân, 1997) họ Dẻ chưa được coi là một Taxon độc lập, các chi thuộc họ Fagaceae được để trong họ Cupuliferae. Nhưng theo hệ thống của Milchior (1964), Soepadmo (1972), hệ thống Menitsky (1984), Takhtajan A.
(1987) coi họ Dẻ là một họ riêng gồm 7 - 9 chi và chia làm 2 - 5 phân họ. đưa ra một hệ thống phân loại riêng khác với các hệ thống phân loại cũ, ông đồng ý với quan điểm của Kupriantova (1962) tách chi Nothofagus ra khỏi họ Fagaceae thành một họ riêng (Khamleck Xaydala, 2004) [35]. Ngoài ra, một số tác giả như Lecomte H. (1931) [49] trong Thực vật chí Đại cương Đông Dương công bố họ Dẻ (Fagaceae) ở Đông Dương có 150 loài.
(1938) (dẫn theo Phan Minh Quang, 2008) [22] cũng nghiên cứu và đặt tên khoa học cho nhiều loài thuộc họ Dẻ. c 4 Nghiên cứu của R. Camus (1910) (dẫn theo Đỗ Văn Chính, 2005) [10] đã mô tả tương đối đầy đủ về đặc điểm hình thái và phân loại đến chi, loài thuộc họ Dẻ ở Việt Nam, Lào và Campuchia. Còn nghiên cứu của Eseepadmo (1972) và của Liao, Jih-Ching (1996) (dẫn theo Đỗ Văn Chính, 2005) đã giới thiệu khá chi tiết về phân loại, phân bố, giá trị sử dụng của các loài thuộc họ Dẻ ở Malesiana và Đài Loan.
Ở Trung Quốc, Hầu Khoan Chiêu (1958) [42] đã coi họ Dẻ (Fagaceae) là một họ riêng, có đến 600 loài, trong đó có các chi Lithocapus, Castanopsis, Quercus. Theo Liu Maosong and Hong Bigong (1998) [51] họ Dẻ ở Trung Quốc là một trong những họ quan trọng nhất trong khu vực ôn đới và cận nhiệt đới, có 7 chi, trong đó có khoảng 352 loài và các biến thể khác. Sự phân bố của loài phong phú về chỉ số loài đặc hữu và các mối quan hệ của chúng với các đặc điểm khí hậu và địa lý của họ Dẻ cũng đã được nghiên cứu. Còn theo Huang Chengchiu, Chang Yongtian, Hsu Yongchun & Jen Hsienwei (1998) [43] tại Trung Quốc có 7 chi và 294 loài, trong đó có 163 loài đặc hữu, ít nhất 3 loài đã giới thiệu.
Tại Trung Quốc cây Sồi phảng ngoài tên khoa học là (Lithocarpus fissus (Champ.Camus) còn được chấp nhận với tên khác là (Castanopsis fissa (Champ. Còn theo Chamlong Phengklai (2006) [38] tại Thái Lan họ Dẻ gồm có 4 chi với 119 loài, 2 phân loài và 2 giống bản địa. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái Sồi phảng đã được mô tả khá kỹ về đặc điểm hình thái. Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Sồi phảng với những loài khác, đặc biệt là với những loài cùng chi với nó.
Việc mô tả hình thái loài nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau. Theo Manos, Paul S., Zhe-Kun Zhou and Charles H. Canon, (2001) [52], Li Shou Zhui [47] thì Sồi phảng là cây gỗ nhỡ, chiều cao khoảng 20m, thân thẳng, phân cành cao, vỏ mỏng màu xám nhạt với các vết nứt dọc theo thân, vỏ dày 3 - 5mm, cây non có vỏ nhẵn. Lá đơn mọc cách, có lá kèm rụng sớm, phiến lá hình trứng ngược hoặc mác ngược, phiến lá dài 12 - 18cm, rộng 5 - 8 cm, bề mặt trên c 5 nhẵn, bề mặt dưới màu xanh xám được phủ lông ngắn mềm màu gỉ sắt, gân bên 14 - 20 đôi rõ ràng.
Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực dạng bông đuôi sóc ở cuối cành, hoa cái dạng bông ngắn; bao hoa có 3 ô, mỗi ô có 2 noãn; cụm hoa dài 6 - 15cm, 1 hoa thường có 5 - 7 quả tập trung trên một cuống. Quả hạch, không có cuống, dài 1,5cm và rộng 0,8 - 1cm. Quả đơn hoặc 2 - 3 quả trong một đấu, quả hình trứng ngược, đầu có mũi nhọn ngắn. Là loài cây mọc nhanh, ưa sáng nên có phân bố rộng ở rừng nhiệt đới ẩm thường xanh ở Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Malaysia,.
thường gặp Sồi phảng ở độ cao dưới 1.600m so với mực nước biển [52]. Nghiên cứu về giống Theo Wang J, Wang ZH, Yang L, Ren H (2008) [53] khi nghiên cứu về tác động của lớp đất phủ trên bề mặt hạt giống và số lần tưới nước đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng của cây con Sồi phảng cho thấy rằng ảnh hưởng của lớp đất phủ trên bề mặt tới sự nảy mầm của hạt giống phụ thuộc vào điều kiện độ ẩm của lớp đất nền. Khi số lần tưới nước là 1 lần/ngày thì độ dày lớp đất phủ bề mặt hạt giống có thể hạn chế tỷ lệ nảy mầm của hạt giống và làm tăng tỷ lệ chết đối với cây con, trong khi tưới nước 2 hoặc 3 lần/ngày, bao gồm cả cải thiện điều kiện độ ẩm của lớp đất nền, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự nảy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây giống. Sinh trưởng của cây giống Sồi phảng đã được tăng cường đáng kể bởi lớp đất phủ trên bề mặt.
Thí nghiệm trên đã chỉ ra rằng việc giữ một lớp đất phủ trên bề mặt có thể ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt giống và sự sống sót của cây giống Sồi phảng. Nghiên cứu về trồng rừng Theo Feng Sui-qi (2010) [40] khi nghiên cứu so sánh kết quả trồng rừng hỗn giao giữa loài Sồi phảng với Thông đuôi ngựa theo các tỉ lệ hỗn giao khác nhau tại trang trại lâm nghiệp Nam Bình tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, kết quả cho thấy tỉ lệ hỗn giao khác nhau đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn, lượng tăng trưởng, suất tăng trưởng và trữ lượng của rừng trên một đơn vị diện tích. Trồng rừng hỗn giao giữa loài cây Sồi phảng với Thông đuôi ngựa có thể nâng cao c 6 tính ổn định của rừng và năng suất của đất lâm nghiệp. Nghiên cứu tỉ lệ hỗn giao khác nhau giữa các mô hình bao gồm các công thức thí nghiệm: thuần loài cây sồi phảng, tỉ lệ 7 sồi phảng + 3 thông đuôi ngựa, 5 sồi phảng + 5 thông đuôi ngựa, 3 sồi phảng + 7 thông đuôi ngựa và thuần loài thông đuôi ngựa.
Kết quả cho thấy tỉ lệ hỗn giao 7 sồi phảng + 3 thông đuôi có lượng tăng trưởng cao nhất, tiếp theo là tỉ lệ hỗn giao 5 sồi phảng + 5 thông đuôi ngựa và thuần loài thông đuôi ngựa cho lượng tăng trưởng thấp nhất. Như vậy, tỉ lệ hỗn giao thích hợp là 7 sồi phảng + 3 thông đuôi ngựa giúp tăng trưởng về đường kính và chiều cao cho cả hai loài này đạt cao nhất. Còn theo Li Po Lin Shaohui (2001) [50] khi nghiên cứu về bón phân cho loài cây Sồi phảng trồng được một năm tuổi tại huyện Tây An, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã cho thấy khả năng sinh trưởng đáng kể so với không bón phân. Trong năm đầu tiên sau khi bón phân chuồng, chăm sóc tổng hợp với phân bón Sồi phảng có mức tăng trưởng chiều cao tăng 81% so với không bón phân, còn với bón phân urê có mức tăng trưởng 42% so với không bón phân.
Trong năm thứ ba, tăng trưởng chiều cao của cả hai thí nghiệm bón phân trên đều có sự tăng trưởng đáng kể so với không bón phân, nhưng ở các năm tiếp theo sự khác biệt về tăng trưởng giảm dần. Chen Bo, Jiang Zhurong, Zhang Jie, Wu Zhongqing, Xu Yingbao, Chen Hongyue (2009) [39] khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các biện pháp canh tác khác nhau tới khả năng sinh trưởng của cây Sồi phảng, tác giả đã tiến hành trồng thử nghiệm 12 công thức áp dụng các biện pháp canh tác khác nhau trên các vùng đất đồi tại một huyện phía bắc của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Bằng cách thiết lập 12 ô mẫu cố định lâu dài (đánh số ô từ 1 đến 12) và thu thập số liệu sinh trưởng của tất cả các cá thể của quần thể Sồi phảng, sau đó tiến hành so sánh sinh trưởng của cây theo các biện pháp: (i) chăm sóc khác nhau; (ii) mật độ trồng khác nhau (500 cây/ha, 800 cây/ha, 1. Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng khác nhau khá rõ rệt giữa 12 ô mẫu, biện pháp chăm sóc ở ô số 12 cho khả năng sinh trưởng tốt nhất, mật độ trồng ở ô số 8 (800 cây/ha) cho khả năng sinh trưởng tốt nhất, kích thước hố khác nhau ở ô số 6 (50x50x50cm) cho khả năng c 7 sinh trưởng tốt nhất.
Trên cơ sở phân tích cụm, hiệu quả tăng trưởng của 12 ô mẫu thí nghiệm các tác giả đã chia thành 3 loại: lô sinh trưởng nhanh, lô sinh trưởng trung bình và lô sinh trưởng chậm. Giá trị sử dụng Hầu hết các loài trong họ Dẻ cho gỗ cứng, nặng, ít bị mối mọt, có thể dùng làm nhà, đóng tàu xe, làm cầu, trụ mỏ, đồ gia dụng, ngoài ra vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da, nhuộm vải có giá trị. Đặc biệt, các loài thuộc chi Castanopsis có thể xếp vào loại cây đa tác dụng vừa cho gỗ, củi, hạt, tanin và thân cây dùng gây trồng nấm. Ở Việt Nam Các nghiên cứu về Sồi phảng ở trong nước cũng còn rất hạn chế, mới chỉ có một số ít nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố và một số ít các công trình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật gây trồng.
Các nghiên cứu về chọn và nhân giống cho loài cây này còn khá sơ sài, có thể tổng hợp các nghiên cứu đối với loài cây này như sau.