Đặt vấn đề Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) là cây gỗ lớn có giá trị kinh tế và giá trị đa dạng sinh học cao, có tên trong sách đỏ của Việt Nam và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và cần được bảo tồn. Chò chỉ có biên độ sinh thái hẹp, mọc rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, cùng với các loài Gội (Aglaia gigantea), Sấu (Dracontonelum duperreanum), Sâng (Amesiodendron chinense). Tái sinh tốt ở ven suối hay ở nơi có độ tàn che nhỏ. Là loài cây ưa sáng nên khi sinh trưởng trong rừng quá rậm cây non sẽ có nguy cơ bị chết cao.
Gỗ Chò chỉ vàng nhạt hay hơi hồng, rất bền, chịu nước, chịu chôn vùi. Là loài thực vật thuộc họ Dầu có ở hầu hết các tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Quảng Bình trở ra. Gặp nhiều ở Thái Nguyên (xã Tân Thịnh, huyện Định Hoá), Tuyên Quang (Na Hang, Chiêm Hoá), Vĩnh Phú (Thanh Sơn), Thanh Hoá (Quan Hóa), Nghệ An (Quỳ Châu), Hà Tĩnh (Hương Khê, Hương Sơn). Do gỗ Chò chỉ tốt nên Chò chỉ đang bị săn lùng ráo riết để khai thác.
Mức độ đe doạ: Bậc K. Việc trồng cây Chò chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn vì thiếu thông tin và những cơ sở khoa học cần thiết. Hiện tại, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (nay là Viện NC&PTLN) đang gieo ươm và thử nghiệm một số kỹ thuật nhân giống từ hom, nuôi cấy mô, đã trồng thử nghiệm một số cây xung quanh Viện NC&PTLN, cây trồng có tỷ lệ sống cao và sinh trưởng tốt. Số lượng cây giống ngày càng tăng tại Trung tâm, để Trung tâm và khuôn viên trường thêm xanh, đẹp, có giá trị kinh tế từ cây Chò chỉ, đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây, cũng như có thêm mô hình học tập nghiên cứu cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
e 2 Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp. Và xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thử nghiệm trồng và bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp - trường Đại học Nông lâm Thái nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Trồng thử nghiệm 50 cây Chò chỉ tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp và một số tuyến đường trong khuôn viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. - Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Chò chỉ sau 3 năm trồng tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu nhằm tăng khả năng sinh trưởng, hình dáng đẹp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học và trong học tập Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống, củng cố kiến thức đã học. Giúp sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực gây trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp.
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở để nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong việc nhân giống, trồng và chăm sóc, phát triển mô hình trồng cây Chò chỉ. Đồng thời khuyến nghị các biện pháp, giải pháp trong công tác bảo tồn, phát triển loài cây Chò chỉ ngoài thực địa nơi phân bố loài này. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Góp phần làm xanh, sạch, đẹp thêm cho khuân viên nhà trường. e 3 Kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chò chỉ.
Đặc biệt góp phần bảo tồn loài cây Chò chỉ, cũng như có thêm mô hình học tập nghiên cứu cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Thế nào là cây bản địa, ưu nước điểm trong trồng rừng cây bản địa Khi viết về định nghĩa và ưu nhược điểm cây bản địa có nhiều tác giả đề xuất, như: Phùng Ngọc Lan, Ngô Quang Đê (2007), Nguyễn Văn Trương (1999); v.v…nhưng theo chúng tôi thấy viết về định nghĩa, ưu nhược điểm cây bản địa của Nguyễn Xuân Quát, Nguyễn Hữu Vĩnh và Phạm Đức Tuấn (2001) [7], cụ thể: * Định nghĩa: Theo nghĩa hẹp, cây bản địa là là những loài cây có phân bố tự nhiên tại địa phương; Ở một mức độ rộng hơn, là những loài cây được quy hóa trong nội bộ một quốc gia; Thậm chí có lúc còn được hiểu bao gồm cả những loài cây nhập nội nhưng đã sống lâu đời, đã thích nghi và hòa nhập vào các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn tại chỗ.
Nhưng trong đề tài này chúng tôi sử dụng định nghĩa cây bản địa theo nghĩa hẹp. Việt Nam với đặc thù hình chữ S trải dài từ Bắc vào Nam với nhiều sự thay đổi khác nhau về độ cao, địa hình, khí hậu tạo thành nhiều vùng khác nhau. Điều này cũng đồng nghĩa với sự đa dạng về thực vật nói chung và các loài cây bản địa tại mỗi vùng nói riêng. * Ưu nhược điểm: Cây bản địa có ưu nhược điểm gì trong trồng rừng nước ta hiện nay: - Ưu điểm: Cây bản địa thích nghi với một số dạng lập địa trong vùng phân bố, ít bị tổn hại bởi các tác nhân gây tổn hại nên có tính ổn định cao, như: khả năng kháng sâu bệnh hại cao, sống lâu năm, thường cho gỗ lớn và tốt, hoặc đặc hữu, gắn e 5 bó với đời sống của người dân vùng núi.
Nguồn giống thường có sẵn, nhiều và tương đối rẻ tiền; dễ dàng lựa chọn được những loài cây có đặc tính mong muốn do tính đa dạng cao; khi được trồng thì tạo ra cảnh quan phù hợp với tiềm thức và văn hóa dân tộc; người dân địa phương có nhiều kinh nghiệm trong việc nhân biết, sử dụng và phát triển; có giá trị kinh tế cao… - Nhược điểm: Cây bản địa rất đa dạng và phong phú, nhiều loài cây có vùng phân bố nên không trồng được phổ biến, chưa có quy trình nhân giống và trồng các loài cây bản địa; thường có đời sống dài nên đầu tư lâu và chậm thu hồi. Việc gieo ươm, trồng, bảo vệ cây bản địa là mục tiêu quan trọng trong triết lý hành động của những người làm lâm nghiệp. Do đó định hướng khôi phục và bảo tồn cây bản địa nhằm đa dạng hóa và làm giàu mầm xanh những khu vực rừng nghèo kiệt đã bị tàn phá trước đây là một chiến lược cấp bách. Gieo ươm, trồng và bảo vệ không những có ý nghĩa về mặt bảo tồn mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo, chia sẻ cho những thế hệ trẻ hiểu được giá trị của cuộc sống khi ươm và phát triển những mầm xanh tương lai; không bị mất đi những nguồn gen cây rừng quý… 2.
Khái niệm sinh trưởng và phát triển rừng Sinh trưởng và phát triển là một trong những nội dung quan trọng nhất của động thái rừng, nó ảnh hưởng lớn đến mục tiêu kinh doanh của ngành Lâm nghiệp. Rừng sinh trưởng, phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật đó chi phối bởi di truyền và điều kiện lập địa. - Sinh trưởng: là sự tăng lên về kích thước và trọng lượng của cây (hoặc từng bộ phận) có liên quan đến sự tạo thành mới các cơ quan, các tế bào cũng như các yếu tố cấu trúc của tế bào. Sinh trưởng là quá trình không đi ngược lại.
e 6 - Phát triển: cá thể là tiến trình có tính quy luật của những biến đổi về chất lượng của các chất chứa trong tế bào và quá trình tạo hình (phát sinh cơ quan bộ phận, thành phần cấu trúc mới) mà thực vật trải qua trong chu trình sống của mỗi cá thể. Sinh trưởng và phát triển có liên quan chặt chẽ với nhau. Không có sinh trưởng thì không có phát triển và ngược lại phát triển là tiền đề cho sinh trưởng. Sinh trưởng ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh rừng gỗ, phát triển ảnh hưởng quyết định đến kinh doanh rừng giống.
Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam 2. Những nghiên cứu mang tính chất cơ sở trên thế giới - E.ODUM (1971) [13] với nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học làm cơ sở cho nghiên cứu hệ sinh thái rừng. Đây là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng mưa nhiệt đới. - Geoge N Baur (1952, 1964, 1976) [12], đã nghiên cứu cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng nhiệt đới.
Tác giả đã tổng kết những biện pháp xử lý kỹ thuật lâm sinh nhằm đem lại rừng đồng tuổi và không đồng tuổi trong kinh doanh rừng nhiệt đới ở các châu lục khác nhau. - Richards PW (1952), Cantinot (1965) [14], đã đi sâu vào biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng biểu đồ các nhân tố cấu trúc được mô tả, phân loại theo dạng sống, tầng phiến, tầng thử. - Parde (1961), Bottam (1972), Rollet (1979) đã vận dụng toán học thống kê để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng, định lượng hoá các quy luật, đồng thời làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật. e 7 Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng cây rừng.
Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp nhận rộng rãi. Các công trình đi sâu vào nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật về tái sinh các loài cây gỗ bản địa bằng phương pháp trồng dặm, trồng thêm vào rừng nghèo, rừng tái sinh kém. Nhằm nâng cao chất lượng và trữ lượng gỗ bằng nhiều phương pháp như trồng theo rạch, theo băng, theo đám, trồng dưới tán.
Và đã được áp dụng ở nhiều nước như: Nijênia, Cônggô, Camerun, Gabon, Côtdivoa.