Chương I • Tổng quan về GIS và thiết bị đầu cuối (PC, PDA) • Trang 12 Tổng quan về các thiết bị đầu cuối thu DV có chức năng bluetooth thì máy thu này có thể tải dữ liệu bản đồ kỹ thuật số vào các thiết bị di động. WLAN cho phép truyền tải dữ liệu tốc độ 11Mbit/s, năng lực truyền tải này được chia sẻ giữa các người dùng của một kênh cơ sở xác định. Ngoài các mạng WLAN này, có các mạng HipeLAN cho phép truyền tải dữ liệu với tốc độ 50Mbit/s. Tuy nhiên, để đạt đến tốc độ cao như vậy, mạng cần phải được đầu tư nhiều hơn nữa và cần thiết phải sử dụng các thiết bị đầu cuối mới.
WLAN đang ngày càng trở nên thông dụng không những trong công sở, bênh viện mà trong cả các khách sạn và các khu vực công cộng như sân bay và trung tâm thành phố. Từng bước một mạng dày đặc các điểm “hotpost” đang được hình thành để phủ sóng các vùng rộng trong các thành phố. Ban đầu, các mạng được phát triển riêng rẽ tuy nhiên với các mạng có khả năng tương thích về mặt kỹ thuật đang mở rộng dần ra nhiều địa điểm có nhu cầu truyền tải dữ liệu nhanh. Xét đến những phát triển này, một câu hỏi đặt ra là liệu có nhu cầu cho các mạng tổ ong thế hệ 3 hay không.
Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng, WLAN tiêu tốn nhiều nguồn hơn so với điện thoại di động và cần phải phát triển nhiều hơn nữa để có thể chuyển giao từ một mạng này sang mạng khác một cách dễ dàng. Bluetooth có khả năng truyền tải dữ liệu với tốc độ khoảng 300kbit/s ở đường lên và 700kbit/s ở đường xuống. Bluetooth đã được phát triển để thay thế cáp giữa các thiết bị IT khác nhau. Ngày càng nhiều điện thoại di động và PDA hỗ trợ Bluetooth.
Năm 2005 này GSM và GPRS đang là các phương thức truyền tải dữ liệu chính trong mạng tổ ong. UMTS đã được triển khai ở một số thành phố lớn trên thế giới. Truyền tải dữ liệu qua mạng tổ ong sẽ gặp khó khăn vì giá cước khá cao. Mạng WLAN đang được sử dụng để phủ sóng cho nhiều nơi công cộng.
Chương I • Tổng quan về GIS và thiết bị đầu cuối (PC, PDA) • Trang 13 Tổng quan về các thiết bị đầu cuối VTT đã phát triển modem vô tuyến mềm dẻo và nhanh chóng cho phép triển khai các mạng vô tuyến trong nhà. Hoạt động của modem này tốt hơn 20-200 lần so với các công nghệ tương tự (WLAN, Bluetooth). Nếu so sánh với công nghệ GSM và UMTS, modem mới này cho phép truyền tải nhanh hơn 5000 lần so với GSM và 100 lần so với UMTS.4 Các mô hình ứng dụng và ngôn ngữ đặc tả Cùng với truyền tải dữ liệu, các giao thức và khuôn dạng dữ liệu khác nhau sẽ được kiểm chứng đặc biệt tập trung vào mức độ thích hợp để truyền thông tin hoa tiêu và thông tin chỉ dẫn. WWW của Internet cũng như WAP đã làm cho các dịch vụ trở thành hiện thực.
Các dịch vụ này được sử dụng cùng với một trình duyệt và ở một mức độ nào đó độc lập với hệ điều hành và thiết bị. Thông thường, giao thức truyền tải dữ liệu cho các ứng dụng vô tuyến được thực hiện bởi SMS hay WAP. Http thường được sử dụng cho các cuộc gọi dữ liệu và GPRS mặc dù tốc độ dữ liệu thấp làm cho phức tạp quá trình sử dụng. Song song với SMS, MMS cho phép truyền tải các bản tin có nội dung phong phú hơn ít nhất là giữa các server, các thiết bị đầu cuối hỗ trợ dịch vụ đa phương tiện và hệ thống email truyền thống.
MMS dựa trên các kỹ thuật WAP 2.0 và có thể tương thích với XHTML được sử dụng trong Internet. Xu hướng diễn tả dữ liệu Internet là chuyển từ HTML đến XHTML, XHTML dựa trên XML. XML khác với HTML ở chỗ nó là một ngôn ngữ meta cung cấp khả năng đặc tả tốt hơn HTML và cung cấp khả năng phân bổ dữ liệu có cấu trúc trong khi HTML chỉ hỗ trợ hiển thị dữ liệu hình ảnh. Dịch vụ WAP sử dụng WML, WML cũng dựa trên XML.
Ở Nhật bản, dịchvụ i- mode sử dụng cHTML, ngôn ngữ này gần giống với HTML hơn so với WML. Chương I • Tổng quan về GIS và thiết bị đầu cuối (PC, PDA) • Trang 14 Tổng quan về các thiết bị đầu cuối Cùng với ngôn ngữ đặc tả, nhiều khuôn dạng dữ liệu khác nhau được sử dụng cho ảnh, đồ họa và video. Ví dụ, ảnh được truyền dưới dạng GIF, JPG và PNG. SVG dựa trên XML đã được định nghĩa cho các đồ họa vector và đang được phát triển để có thể sử dụng cho di động (SVGMobile).
Dữ liệu Video được truyền dưới khuôn dạng của một phiên bản MPEG tuy nhiên một số khuôn dạng khác cũng tồn tại. Ví dụ, VTT đã phát triển khuôn dạng dữ liệu MVQ trong đó dữ liệu truyền tải tỉ lệ với tốc độ truyền tải và quá trình giải mã được thực hiện với một ứng dụng java. Cùng với video, có thể truyền thông tin về vị trí. Để truyền tải thông tin dữ liệu địa lý có cấu trúc OGC đã định nghĩa GML dựa trên XML.
GML được đưa ra thảo luận ở hội nghị kỹ thuật TC211 và đang trên trong quá trình trở thành tiêu chuẩn ISO. Để hiển thị hóa thông tin địa lý dạng GML như là một bản đồ, người ta sử dụng SVG. Thông tin bản đồ như nội dung dữ liệu được chuẩn hóa trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng ví dụ trong định tuyến ô tô. Chuẩn file dữ liệu địa lý GDF định nghĩa mô hình ứng dụng và mã hóa của dữ liệu bản đồ.
Ngoài ra, các mô hình định vị điện tử có chứa tất cả các loại dữ liệu thủy văn học có mô hình ứng dụng chuẩn. Các bản đồ có từ lâu đời, trong hiệp định NATO yêu cầu chuẩn để trao đổi nội dung bản đồ địa lý. Các dataset tuân theo chuẩn DIGEST được tạo ra để hỗ trợ cả các ứng dụng quân sự và dân sự. Thậm chí khi đã có thỏa thuận về phạm vi địa lý, vẫn có nhiều khác biệt giữa các trường ứng dụng và các nhân tố địa phương làm cho các mô hình ứng dụng trở nên đa dạng trong nội bộ các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau.
Dự án GiMoDig là một trong những hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề này.5 Giao tiếp người – máy Các hiển thị màu đang ngày càng trở nên phổ biến trong các thiết bị di động. Khái niệm về PocketPC bao gồm một hiển thị màu và do đó gây khó Chương I • Tổng quan về GIS và thiết bị đầu cuối (PC, PDA) • Trang 15 Tổng quan về các thiết bị đầu cuối khăn cho các nhà sản xuất PDA khác. Nokia thông báo rằng năm 2003 nửa số thiết bị Nokia có hiển thị màu. Kích thước vùng hiển thị của các thiết bị di động chưa được chuẩn hóa như cho PC trước đây.
Đối với PDA, kích thước màn hình quarter VGA (240x320 pixels) chiếm một tỉ lệ lớn, còn lại chủ yếu là màn hình có độ rộng lớn nhất VGA (640) còn chiều cao thì thay đổi. Kích thước màn hình của máy di động rất phong phú, tuy nhiên khi giấy đăng ký giao diện người dùng cho sản phẩm Nokia’s series 60 thì các màn hình màu kích thước 176x208 trở nên thông dụng trong thiết bị di động. Ánh sáng mặt trời có ảnh hưởng đến màn hình của các thiết bị di động và có thể làm cho việc hiển thị hình ảnh không rõ nét. Giấy điện tử có khả năng tái sử dụng công nghệ hiển thị Gyricon được phát minh tại trung tâm nghiên cứu Xerox Palo Alto (PARC).
Nguyên liệu này có nhiều ứng dụng tiềm năng trong lĩnh vực hiển thị thông tin trong đó có các màn hình di động cầm tay tiêu thụ nguồn ít. Giao diện cho thiết bị di động là một vấn đề khó khăn khi phát triển sản phẩm di động đặc biệt là đối với nhà cung cấp dịch vụ vì các nhà cung cấp dịch vụ muốn cung cấp dịch vụ trên một vài chuẩn chung nào đó. Vấn đề này được giải quyết bằng các hoạt động chuẩn hóa và W3C đã phát triển phương pháp truyền thông thông tin cơ bản về giao diện (Uarpof, User Agent Profile). Trong các thiết bị di động, bàn phím rất nhỏ và có nhiều phím nhỏ hơn bình thường một chút hay có một vài phím không tồn tại.
Việc sử dụng các ứng dụng thường dựa trên bàn phím cùng với các menu hình cây hay ấn vào trực tiếp trên màn hình. Giao diện tiếng nói đã là một phần của ứng dụng định vị ô tô và đang trở thành một phần của thiết bị di động. Tai nghe là một phần của máy di động tuy nhiên triển khai nhận dạng tiếng nói vào thiết bị di động gặp nhiều khó khăn ví dụ như nhiễu nền. Chương I • Tổng quan về GIS và thiết bị đầu cuối (PC, PDA) • Trang 16 Tổng quan về các thiết bị đầu cuối Phonetic Topographics, một chi nhánh của TeleAtlas, kết hợp công nghệ hỗ trợ giọng nói với các cơ sở dữ liệu địa lý có thể biên tập được và các cơ sở dữ liệu khác của khu vực châu Âu.
Sản phẩm của họ là một cơ sở dữ liệu ngôn ngữ bao gồm các bộ phiên âm chứa các biến phát âm đa ngôn ngữ và vùng. Các công nghệ định vị d ự đoán đến năm 2005 hầu hết các hệ thống định vị phương tiện di động đều hỗ trợ tiếng nói. Các công nghệ định vị đã kêt hợp với các công nghệ phát âm để xây dựng khả năng định vị bằng giọng nói cho các thiết bị định vị.6 Platform và hệ điều hành Thiết bị di động đang phát triển thành các platform mở và hiện tại giữa các hệ điều hành khác nhau đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ. Đầu tiên, PalmOS và Epoc (giờ đây là hệ điều hành SymbianOS) canh tranh nhau trong lĩnh vực máy cầm tay.
Hệ điều hành Window CE phiên bản 2.x của Microsoft được xem là phức tạp và được thay thế bằng phiên bản mới 3. Phiên bản này đã trở nên nổi tiếng đặc biệt nhờ thiết bị iPaq của HP và Jordana của HP. Các thiết bị Nokia trước kia sử dụng hệ điều hành Geos và hiện tại sử dụng hệ điều hành SymbianOS. Đặc biệt là ở Nhật Bản, hệ điều hành Linux đã được sử dụng cho thiết bị cầm tay.
Các máy di động trong tương lai sẽ có nhiều hơn một hệ điều hành cho phép cài đặt nhiều dạng ứng dụng khác nhau.