ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm màng não do virus là tình trạng viêm ở màng não và màng tủy do virus gây ra. Viêm màng não do virus là nguyên nhân thường gặp nhất của viêm màng não. Trên lâm sàng bệnh thường khởi phát cấp tính với hội chứng màng não cấp và gây rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương với nhiều mức độ khác nhau[1],[2],[3]. Viêm màng não do virus còn được gọi là viêm màng não nước trong (vì dịch não tủy trong).
Tuy nhiên viêm màng não nước trong còn gặp do một số vi sinh vật khác không phải virus như kí sinh trùng, nấm, thuốc hoặc hóa chất hoặc viêm màng não mủ mất đầu, nhưng các loại này hiếm gặp nên khi nói viêm màng não nước trong thường ám chỉ viêm màng não do virus[4],[5]. Viêm màng não có thể do nhiều tác nhân khác nhau gây nên gồm các tác nhân do nhiễm trùng như virus, vi khuẩn, xoắn khuẩn và các loại ký sinh trùng, đơn bào, nấm. Hoặc do các tác nhân không phải nhiễm trùng như tác dụng phụ của thuốc, hóa chất, bệnh hệ thống[6],[7] …. Tuy nhiên, trong các loại nguyên nhân trên, nguyên nhân do nhiễm trùng vẫn là quan trọng và phổ biến nhất, đặc biệt là nguyên nhân virus, theo nghiên cứu năm 2019 của amdapari tại Vương quốc Anh và Cộng Hòa Ireland thì viêm màng não do Enterovirus (EV) cao gấp đôi so với viêm màng não do vi khuẩn[8].
Theo một số thống kê của Parasuraman thì tỷ lệ viêm màng não do EV tại Mỹ từ năm 1950 -1981 là 66,7%, tại Nam Phi từ năm 1981 – 1989 là rất cao với 91%, còn tại Anh Quốc từ năm 1978 – 1982 là 52,3%[4]. Theo kết quả nghiên cứu ở một số nước trên thế giới, trong các căn nguyên virus gây viêm màng não thì EV là căn nguyên đứng hàng đầu chiếm 80 - 90%, bệnh thường xảy ra vào mùa hè và mùa thu [9]. EV chủ yếu lây truyền qua đường tiêu hoá và là tác nhân gây viêm màng não quan trọng không chỉ ở các nước k m phát triển và đang phát triển, có điều kiện vệ sinh k m, các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới như Brazil, Hy Lạp, Trung Quốc mà kể cả ở các nước có 2 khí hậu ôn đới và ở các nước phát triển như Anh, Mỹ thì tỷ lệ mắc bệnh vẫn rất cao[10],[11],[12]. Tuy nhiên cho đến nay, một số vấn đề liên quan đến EV, đặc biệt là viêm màng não do EV vẫn đang được quan tâm nghiên cứu như bệnh sinh, chẩn đoán sớm, khống chế dịch trong cộng đồng, cũng như các giải pháp điều trị hiệu quả, phòng bệnh[13],[14].
Tại Trung tâm bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Nhi Trung ương thì viêm màng não vẫn là một trong những bệnh đứng hàng đầu về tỷ lệ nhập viện và điều trị hằng năm. Theo các kết quả nghiên cứu gần đây của Hồ Anh Tuấn năm 2006 hay húc Thị Rềnh Hoa năm 2011 cho thấy căn nguyên do EV đang có xu hướng trở thành một trong các nguyên nhân chính trong gây bệnh viêm màng não ở trẻ em[15],[16]. Hiện nay, ở nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu về viêm màng não do EV. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh viêm màng não do Enterovirus tại Bệnh viện Nhi Trung ươngnăm 2020. Đánh giá kết quả điều trị của bệnh viêm màng não do Enterovirus tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2020. 3 Chư ng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm cấu tạo và chức năng của màng não 1.
Đặc điểm cấu tạo của màng não Màng não là một đơn vị phân lớp của mô liên kết màng bao bọc não và tủy sống. Những lớp phủ này bao bọc các cấu trúc của hệ thần kinh trung ương để chúng không tiếp xúc trực tiếp với xương của cột sống hoặc hộp sọ. Màng não được cấu tạo bởi ba lớp màng được gọi là màng cứng, màng nhện và màng mềm. Mỗi lớp của màng não đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì và chức năng thích hợp của hệ thần kinh trung ương.
Màng cứng: Lớp ngoài này kết nối màng não với hộp sọ và cột sống. Nó được cấu tạo bởi các mô liên kết dạng sợi, dai. Màng cứng trong sọ tạo thành vỏ bọc hình ống bao bọc các dây thần kinh sọ trong hộp sọ. Màng cứng của cột sống được cấu tạo bởi lớp màng não và không chứa lớp màng xương.
Màng nhện: màng này kết nối màng cứng và màng mềm. Màng nhện bao phủ não và tủy sống một cách lỏng lẻo và được đặt tên từ hình dạng giống như mạng của nó. Lớp màng nhện được kết nối với lớp màng mềm thông qua phần mở rộng dạng sợi nhỏ trải dài không gian dưới màng nhện giữa hai lớp. hông gian dưới nhện cung cấp một lộ trình cho các mạch máu và dây thần kinh thông qua não và thu thập dịch não tủy chảy từ não thất thứ tư.
Màng mềm: Lớp bên trong mỏng này của màng não tiếp xúc trực tiếp và bao phủ chặt chẽ vỏ não và tủy sống. Lớp này là có nguồn cung cấp mạch máu dồi dào, giúp cung cấp chất dinh dưỡng cho mô thần kinh. Lớp này cũng chứa đám rối màng mạch, một mạng lưới các mao mạch và ependyma (mô biểu mô có lông hút chuyên biệt) sản xuất dịch não tủy. Chức năng của màng não Màng não có chức năng chủ yếu là bảo vệ và hỗ trợ hệ thống thần kinh trung ương.
Nó kết nối não và tủy sống với hộp sọ và ống sống. Màng não tạo thành một hàng rào bảo vệ giúp bảo vệ các cơ quan nhạy cảm của thần kinh 4 trung ương chống lại chấn thương. Nó cũng chứa một nguồn cung cấp dồi dào các mạch máu cung cấp máu đến các mô thần kinh trung ương. Một chức năng quan trọng khác của màng não là nó tạo ra dịch não tủy.
Chất lỏng trong suốt này lấp đầy các khoang của não thất và bao quanh não và tủy sống. Dịch não tủy bảo vệ và nuôi dưỡng mô thần kinh trung ương bằng cách hoạt động như một bộ giảm xóc, bằng cách luân chuyển các chất dinh dưỡng và bằng cách loại bỏ các chất thải. Các căn nguyên gây viêm màng não do virus 1. Một số khái niệm Viêm màng não là thuật ngữ dùng để chỉ các trường hợp tổn thương màng não, màng tủy nhưng chưa có tổn thương đến nhu mô não.
Viêm màng não do virus còn được gọi là viêm màng não nước trong (vì dịch não tủy trong). hác với viêm màng não do virus, viêm màng não do vi khuẩn thì dịch não tủy đục nên còn được gọi là viêm màng não mủ, là nguyên nhân đứng hàng thứ hai sau viêm màng não do virus [4],[5]. Các nguyên nhân gây viêm màng não do virus hi cơ thể bị nhiễm các chủng virus khác nhau và các virus này tấn công vào màng não, màng tủy sẽ gây ra tình trạng viêm màng não. Nhưng hầu hết các trường hợp viêm màng não do virus ở Hoa kỳ, đặc biệt là trong những tháng mùa hè và mùa thu, là do các chủng Enterovirus gây nên (bao gồm Enterovirus, Coxsakieviruses, và Echoviruses)[17].
Hầu hết người bị nhiễm EV hoặc không có triệu chứng hoặc chỉ bị cảm lạnh, nổi mẩn, hoặc là đau họng với sốt nhẹ - vừa. Và chỉ có một số nhỏ người nhiễm EV bị viêm màng não [13],[18],[19]. Những chủng virus khác có thể đưa đến viêm màng não bao gồm quai bị, Herpesvirus ( như là Epstein- Barr virus, Herpex simple virus, và Varicella - zoster virus - gây nên thủy đậu và zona), sởi và cúm[1],[2],[3],[5]. Arbovirus (virus hại cây gỗ), muỗi và các côn trùng khác lây lan, cũng có thể bị nhiễm và có thể làm lây nhiễm sang người gây viêm 5 màng não virus.
Và lymphocytic choriomeningi (viêm màng não do virus lây từ chuột nhà sang) lây lan qua gặm nhấm, cũng có thể gây nên viêm màng não virus, mặc dù rất hiếm gặp. Một số đặc điểm dịch tễ học Enterovirus phân bố trên toàn thế giới, được lây truyền qua đường phân miệng, nước bọt, hô hấp và một số trường hợp được lây qua dịch tiết của tổ chức liên kết. Các virus này cũng có thể được lưu hành qua ruồi, nước thải, rác cống rãnh [4],[13]. Các nghiên cứu cũng cho thấy các chủng Enterovirus gây viêm màng não phân bố ở nhiều nước trên thế giới.
Bệnh không chỉ xuất hiện ở các nước có khí hậu nhiệt đới mà còn phân bố ở cả các nước có khí hậu ôn đới, bệnh không chỉ gặp ở các nước đang phát triển có điều kiện vệ sinh thấp như Việt Nam, Brazil mà còn xuất hiện ở cả các nước đã phát triển có điều kiện vệ sinh, môi trường tốt như Mỹ, Anh, Pháp[10],[11],[15],[20],[21]. Các nghiên cứu cũng cho thấy các Enterovirus thường gây thành dịch hằng năm. Các virus khác nhau gây viêm màng não thì lây lan qua những con đường khác nhau. Enterovirus là nguyên nhân thường gặp của viêm màng não virus, thường lây qua tiếp xúc trực tiếp với phân của người bị nhiễm, đây cũng là con đường chủ yếu đối với những trẻ nhỏ, đặc biệt là những trẻ chưa được tập cho thói quen rửa tay sau khi đi vệ sinh.
Nó cũng có thể lây bằng con đường này ở người lớn trong khi chăm sóc cho ăn hay thay tã cho trẻ bị nhiễm dẫn đến lây cho những trẻ khác cùng nhà. EV có thể được tìm thấy trong dịch hô hấp (từ mũi và họng) và phân của người nhiễm virus vì thế trẻ cũng có thể bị nhiễm virus qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của người bị nhiễm virus hoặc va chạm với các vật hoặc bề mặt đồ vật có virus bám sau đó sờ vào mắt, mũi, miệng. Điều này thường xảy ra qua việc hôn hít hoặc bắt tay với người nhiễm. Virus cũng có thể đọng lại trên mặt phẳng vài ngày và có thể lây lan tử các vật dụng.
Virus cũng có thể lây 6 lan trực tiếp khi người nhiễm ho hoặc hắt hơi và bắn những giọt chứa virus vào trong không khí thở. Thời gian từ khi một người bị nhiễm đến khi biểu hiện triệu chứng (thời kỳ ủ bệnh) thường là khoảng 3-7 ngày đối với EV. Một người nhiễm thì thường lây từ lúc họ có triệu chứng cho đến khi triệu chứng biến mất. Trẻ nhỏ và người bị suy yếu miễn dịch có thể lây nhiễm thậm chí là sau khi triệu chứng đã được giải quyết.
Người có nguy cơ lây nhiễm là những người ở gần với người bị viêm màng não siêu vi. Nhưng khi đã bị nhiễm virus thì nguy cơ bị viêm màng não cũng rất thấp. Một số đặc điểm của Enterovirus Enterovirus thuộc họ picornavirus.