Đặt vấn đề Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp lâu đời và nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng ẩm nên tạo điều kiện cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói chung và cây trồng cạn nói riêng. Đồng thời cũng tạo nên sự phong phú, đa dạng về thành phần cũng như chủng loại của các giống cây trồng. Bên cạnh đó còn thuận lợi cho một số loài phát sinh gây hại, đáng chú ý là các nấm gây bệnh có nguồn gốc từ trong đất gây ra làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây trồng. Nhóm nấm trong đất có phổ kí chủ rất rộng, chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như: họ bầu bí, họ rau thập tự, họ cà, đậu tương, đậu đen vv.
Đặc biệt những chủng nấm này nó còn có khả năng tồn tại trong đất một thời gian rất dài thông qua các dạng bảo tồn như: hạch nấm, bào tử hậu, bào tử trứng. Chúng là nguồn bệnh chính chủ yếu lây lan từ vụ này sang vụ khác, từ năm này qua năm khác. Vì vậy việc phòng trừ bệnh nấm trong đất là vấn đề rất nan giải và gặp nhiều khó khăn. Bệnh lở cổ rễ do nấm Rhizoctonia solani Kühn gây ra, là một loại bệnh phổ biến và nghiêm trọng đối với các vùng sản xuất lương thực, thực phẩm của nước ta.
Bệnh có thể gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây, tuy nhiên bệnh gây hại ở tất cả các giai đoạn cây con. Bệnh hại nặng làm cây gục chết hàng loạt nên bệnh còn được gọi bằng các tên khác như: bệnh chết rạp cây con. Bệnh chủ yếu gây hại ở phần cổ rễ, phần gốc sát mặt đất. Bệnh xuất hiện với những vết bệnh có màu nâu hoặc nâu vàng và phần vỏ bị sần xùi, sau lan dần ra ra toàn bộ phận cổ rễ hoặc gốc cây.
Dưới ảnh hưởng của các điều kiện môi trường khiến phần vỏ dẫn bị khô, các vết bệnh này khi gặp mưa hoặc độ ẩm cao sẽ bị thối nhũn, bong ra trơ lại phần lõi gỗ của cây, có màu thâm nâu đen, bị héo và chết. Bên cạnh đó các yếu tố thời tiết khí hậu, kỹ thuật chăm sóc, đất đai, chế độ luân 1 canh cây trồng cũng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh, phát triển và gây hại của bệnh. Để hạn chế sự gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani người ta chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng trừ hóa học. Biện pháp này cho hiệu quả cao hơn nhưng lại có một vấn đề xảy ra, đó là sự ô nhiễm môi trường của các chất hóa học gây nên.
Vì vậy để khắc phục vấn đề của biện pháp phong trừ hóa học, các nhà khoa học đã nghiên cứu áp dụng tính ức chế của nấm đối kháng, vi khuẩn đối kháng để phòng trừ bệnh lở cổ rễ đảm bảo an toàn với môi trường. Hiện nay với sự phát triển của ngành công nghệ sinh học, đã nghiên cứu ra các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ nấm đối kháng, vi khuẩn đối kháng và được lựa chọn trong công tác bảo vệ thực vật. Trong đó nấm đối kháng Trichoderma spp. được sử dụng phòng trừ bệnh hại trên nhiều loại cây trồng.
là nấm được phân lấp từ trong đất, thường hiện diện ở vùng xung quanh hệ thống của rễ cây. Đây là loại nấm hoại sinh có khả năng ký sinh và đối kháng trên nhiều loại nấm bệnh hại cây trồng. Nhờ vậy mà nhiều loại Trichoderma spp. đã được nghiên cứu như là một tác nhân phòng trừ sinh học và đã được thương mại hóa thành thuốc trừ bệnh có nguồn gốc sinh học, phân sinh học và chất cải tạo đất.
Biện pháp sử dụng chế phẩm vi sinh vật có nguồn gốc từ nấm đối kháng Trichoderma spp. ra còn có vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái học của nấm Rhizoctonia solani gây bệnh lỡ cổ rễ là quan trọng trong việc phát triển các chiến lược thích hợp để quản lý bệnh hại do chính loài nấm Rhizoctonia solani gây ra. Điều tra và nắm rõ mối quan hệ tác động ảnh hưởng lẫn nhau của loài nấm gây bệnh lở cổ rễ và nấm đối kháng là cần thiết trong việc phòng trừ, quản lý và hạn chế những thiết hại có thể diễn ra do nấm gây bệnh lỡ cổ rễ gây ra.
Do đó, việc điều tra thực trạng bệnh lở cổ rễ, nghiên cứu tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani, đặc điểm sinh học để đưa ra biện pháp phòng trừ nhằm hạn chế tối đa khả năng gây hại của nấm 2 Rhizoctonia solani là hết sức cần thiết đối với nền sản xuất nông nghiệp hiện nay. Trước những vấn đề trên, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS. Ts Đỗ Tấn Dũng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật đối kháng phòng trừ nấm Rhizoctonia solani gây ra bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng cạn”.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục đích Điều tra thực trạng bệnh lở cổ rễ hại một số cây trồng cạn. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, tính gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani và khảo sát hiệu lực của vi sinh vật đối kháng với nấm bệnh Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo và chậu vại.
Yêu cầu - Điều tra mức độ phổ biến và tình hình phát sinh, phát triển của bệnh lở cổ rễ Rhizotonia solani Kühn hại cây trồng cạn tại Hà Nội năm 2020-2021. - Thu thập mẫu bệnh, phân ly nuôi cấy, nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học của các isolate nấm Rhizoctonia solani. - Đánh giá tính gây bệnh các isolate trên một số cây kí chủ. - Khảo sát hiệu lực ức chế của nấm đối kháng Trichoderma viride, vi khuẩn đối kháng Bacillus subtilis đối với isolate nấm Rhizoctonia solani trên môi trường nhân tạo.
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ của nấm đối kháng Trichoderma viride với bệnh lở cỗ rễ hại một số cây trồng cạn điều kiện chậu vại. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Nấm Rhizoctonia solani Kühn đã được phát hiện lần đầu tiên trên cây khoai tây ở châu Âu. Năm 1858 đã được Kühn mô tả chi tiết.
Theo Park và Barush Senh (1932) ở Srilanca đã khảo sát sự tồn tại của hạch nấm dưới các điều kiện khác nhau, ở trong nhiệt độ phòng trên đất khô và ẩm. Hạch nấm sống ít nhất là 130 ngày trong đất sau khi ngâm ở độ sâu 3 inso (1 inso=2,54cm). Trong nước máy hạch nấm sống được 224 ngày. Theo Masumoto và CTV (1933), nhiệt độ tối thích đối với sự phát triển của nấm là 28 – 31 °C, ngưỡng pH tối thiểu là 2, tối thích là 5 - 7 và tối đa là 8.
Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của nấm Rhizoctonia solani Kühn Parmeter JR (1970) cho rằng nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nấm. Nấm có thể tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ 5°C - 42°C. và CTV (1954) cho biết hạch nấm có thể tồn tại trong đất vài tháng, sự tồn tại của hạch nấm dưới các điều kiện khác nhau: ở nhiệt độ phòng trên đất khô và ẩm chúng sống ít nhất 130 ngày và sau khi ngâm ở độ sâu khoảng 8 cm trong nước nóng sống được 224 ngày. Ở Nhật Bản, Ui T.
(1976) đã xác định được nguyên nhân gây ra bệnh khô vằn lúa do nấm Hypochnus sasaki Shirai và sau đó nấm này được đặt tên là Rhizoctonia solani Palo. Địa bàn phân bố của nấm khá rộng ở tất cả các nước trồng lúa vùng châu Á và các châu lục khác nhau. Cây lúa có thể bị giảm năng suất 20% - 25% khi bệnh phát triển trên lá đòng.Gans (1979), sau khi hạt giống nảy mầm khỏi mặt đất ở giai đoạn cây con mới hình thành nấm gây bệnh ở rễ và phần thân sát mặt đất tạo vết bệnh màu nâu hoặc nâu xám, gốc thân bị teo thắt lại, trở nên mềm yếu, cây đổ gục và chết. Bệnh hại chủ yếu ở giai đoạn vườn ươm.
Subrahmanyam et al. (1980), nấm Rhizoctonia solani Kühn xâm 4 nhiễm qua hạt giống hoặc truyền qua đất, và kết quả làm cây chết từ giai đoạn cây con. Trong cây con, tổn thương thường được biểu hiện trên hypocotyl (Phát mầm hạt phát triển thành gốc sau này) có vết bệnh chìm, màu nâu, kéo dài 9 phần dưới mặt đất. Tổn thương làm vết bệnh trở thành màu đen và bong vo hypocotyl dẫn đến triệu chứng lở cổ rễ điển hình.
Tổn thương tương tự phát triển lên cả rễ và lan rộng toàn hệ thống gốc cây lạc làm thối rễ và sau đó cho cây. Các vết bệnh thường được bao phủ bởi lớp sợi nấm màu nâu sáng, hạch nấm có thể hình thành trên các mô chết. Trong một nghiên cứu về nấm R. (1984) đã chỉ ra rằng nấm R.
solani có thể sản sinh ra nhiều hạch trong mô cây ký chủ cây, hạch nấm được đan kết từ những sợi nấm. Hạch nấm này tồn tại trong đất, trên tàn dư cây chủ và sẽ nảy mầm khi được kích thích bởi những dịch gỉ ra từ cây ký chủ bị nhiễm bệnh hoặc từ việc bổ sung chất hữu cơ vào đất. Sau khi gieo hạt ở giai đoạn cây con mới hình thành nấm gây bệnh ở rễ, gốc thân sát mặt đất tạo ra những vết bệnh màu nâu hoặc màu xám, gốc thân bị teo thắt lại trở nên mềm yếu, cây đổ gục xuống và chết. Bệnh hại nặng nhất ở giai đoạn cây con (ZK.
Ngoài khả năng truyền bệnh qua đất, qua tàn dư cây trồng nấm Rhizoctoni solani còn có khả năng truyền bệnh qua hạt giống với tỷ lệ 10%, còn ở Mỹ có năm lên tới 30% (Khetmalas M. Theo Kataria HR et al. (1986): "Nấm Trichoderma sp. là một loại nấm tồn tại trong đất, chúng là những tác nhân sinh học có khả năng kiểm soát nấm Rhizoctonia solani hại trên cây trồng.
Khi nghiên cứu về nấm Rhizoctonia solani Van Bruggen A. (1986) nhận thấy bệnh do nấm gây ra tương đối nghiêm trọng đối với các vùng trồng lạc trên thế giới. Ở miền nam nước Mỹ bệnh lở cổ rễ lạc trở thành một vấn đề cấp bách, hàng năm ở bang Geogia (Mỹ) thiệt hại do bệnh gây ra ước tính lên tới hơn một tỷ đô la. (1989) nấm Rhizoctonia solani gây cháy lá đậu tương được báo cáo đầu tiên vào năm 1918 ở Philippines và ở Trung Quốc vào năm 1919.
đã đưa ra kết luận: “Bệnh do đó Rhizoctonia solani gây hại trên lạc xảy ra trên toàn thế giới. Nam gây chết nó cây con, thối rễ khi cây còn nhỏ, thối củ và cháy toàn bộ lá cây.