LỜI MỞ ĐẦU Vi khuẩn lactic được coi là an toàn, từ lâu đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực sản xuất và bảo quản thực phẩm đặc biệt trong sản xuất các sản phẩm lên men truyền thống như lên men sữa, thịt, rau quả. Hiện nay, các hướng nghiên cứu về vi khuẩn lactic ứng dụng cho sản xuất các loại sản phẩm chức năng chứa các hợp chất có lợi cho sức khỏe đã và đang được quan tâm rộng rãi trên thế giới. Đặc biệt một số chủng vi khuẩn lactic có khả năng probiotic và sinh tổng hợp gamma-amino butyric acid được nhiều nhà khoa học quan tâm. Gamma- amino butyric acid (GABA) là một acid amin có chức năng quan trọng trong hệ thống thần kinh.
Do vậy các sản phẩm có chứa GABA có tác dụng bổ não và bổ thần kinh, cải thiện giấc ngủ, điều chỉnh huyết áp, giảm mệt mỏi, tăng cường thể trạng. Trong nghiên cứu ứng dụng probiotic, điều quan trọng là phải sử dụng các chủng vi sinh vật an toàn và mang những đặc tính probiotic quan trọng vừa có tác dụng ức chế vi sinh vật có hại, vừa cung cấp các thành phần vitamin, enzyme và các chất có hoạt tính sinh học quý cho vật chủ như bacteriocin, vitamin B12, gamma-aminobutyric acid, v. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tuyển chọn, nghiên cứu các chủng vi khuẩn Lactobacillus có khả năng sinh Gamma-aminobutyric acid (GABA) và một số đặc tính probiotic ứng dụng trong sản xuất các sản phẩm chức năng” với mục tiêu: - Tuyển chọn các chủng vi khuẩn Lactobacillus có khả năng sinh tổng hợp gamma-aminobutyric acid. - Nghiên cứu một số đặc tính probiotic quan trọng của các chủng lựa chọn.
- Nghiên cứu khả năng sinh gamma-aminobutyric acid của các chủng lựa chọn. Định nghĩa Probiotic: theo ngôn ngữ Hi Lạp, probiotic có nghĩa là “vì sự sống”. Thuật ngữ probiotic được Parker đề nghị sử dụng lần đầu tiên vào năm 1974 để chỉ “những vi sinh vật và những chất làm cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột” [21]. Từ đó đến nay, thuật ngữ probiotic đã được cả thế giới sử dụng để chỉ những chế phẩm vi sinh vật sống hữu ích khi được đưa vào cơ thể động vật thông qua thức ăn hoặc nước uống tạo nên những ảnh hưởng có lợi cho vật chủ.
Kể từ khi xuất hiện, khái niệm probiotic vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên, hiện có hai định nghĩa được cho là phản ánh khá đầy đủ bản chất của probiotic và được sử dụng nhiều trong các ấn phẩm khoa học: (i) theo Fuller 1989[21], probiotic là “chất bổ sung vi sinh vật sống vào thức ăn giúp cải thiện cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hóa theo hướng có lợi cho vật chủ”; (ii) theo tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2001), probiotic là “các vi sinh vật sống khi đưa vào cơ thể theo đường tiêu hoá với một số lượng đủ sẽ đem lại sức khoẻ tốt cho vật chủ” [20]. Prebiotic và synbiotic: nhằm giúp tăng hiệu quả của probiotic với vật chủ, probiotic thường được bổ sung cùng chất mang. Prebiotic là các thành phần hydratcacbon có tác dụng làm tăng sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột.
Thường là các loại olygosaccharides như: fructooligosaccharides (FOS), Xylooligosaccharide (XOS) và galactooligosaccharides (GOS). Synbiotic hoặc Co-Biotic là sự kết hợp chung của probiotic và prebiotic. Vai trò của probiotic Việc duy trì ổn định hệ vi khuẩn đường ruột có vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Vai trò chính của probiotic là giúp cho 2 hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, ngăn cản sự thâm nhập và phát triển vi sinh vật gây bệnh, tăng sức đề kháng tự nhiên với các bệnh truyền nhiễm của đường tiêu hóa.
Vai trò này được thể hiện ở một số các biểu hiện cụ thể sau: ➢ Tăng hiệu quả sử dụng đường lactose tránh bệnh tiêu chảy do dùng các sản phẩm sữa: Trong thành phần của sữa có đường lactose là một disaccharide. Những thiếu hụt về khả năng sinh enzyme β-galactosidse thường dẫn đến bệnh tiêu chảy. Phần lớn các vi khuẩn probiotic đặc biệt là vi khuẩn lactic (Lactobacillus, Streptococcus và Bifidobacterium) có khả năng sinh enzyme β-galactosidse có khả năng thủy phân đường lactose thành đường đơn là galactose và glucose. Như vậy probiotic với các chủng vi khuẩn này không chỉ là pháp điều trị bệnh tiêu chảy do dùng sữa mà còn tăng hiệu quả hấp thu chất dinh dưỡng cho cơ thể con người và vật nuôi [40].
➢ Ức chế vi sinh vật gây bệnh cho vật chủ như E. Salmonella, Staphylococcus… Hình 1.1: Minh họa cơ chế tác động của probiotic 3 Một trong những vai trò có lợi hơn cả của probiotic là khả năng ức chế các mầm bệnh do vi rút và vi sinh vật gây ra đối với cơ thể. Probiotic có khả năng ức chế các vi sinh vật gây bệnh theo một số cơ chế sau: + Cơ chế sinh ra các chất bacteriocin (bao gồm cả lantibiotic) như nisin enteriocin, subtilisin [8]. Bacteriocin lần đầu tiên được Gratia phát hiện (1925) cho đến nay có hàng ngàn loại bacteriocins đã được nghiên cứu [12],[27].
Bacteriocin được chia thành 4 nhóm : - Nhóm 1: bao gồm các bacteriocin là các peptit kháng khuẩn như nisin, enterocin và các chất kháng khuẩn là peptid dạng vòng (lantibiotic) như: subtilin, epidermin, gallidermin. - Nhóm 2: bao gồm các peptid bền nhiệt có trọng lượng phân tử <10 KD, các peptid này có vai trò ức chế các vi sinh vật khác thông qua hoạt tính hòa tan thành tế bào và được chia thành 4 nhóm a,b,c,d với các đại diện đặc trưng là Pediocin-PA1, lactococcin G, Enterocin AS-48 và aureocin A53. - Nhóm 3: là các bacteriocin có kích thước >10KD có khả năng làm tan thành tế bào như lysostaphin. - Nhóm 4: là các bacteriocin có thành phần phức tạp gồm protein và phi protein như lipid và hydratcarbon, ví dụ như glycocin F.
+ Probiotic có khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh trong vật chủ thông quả khả năng cạnh tranh vị trí bám trên nhu mô ruột của vật chủ. Ví dụ vai trò của L. rhamnosus GG và Bifidobacterium animalis trong việc cạnh tranh vị trí bám (receptor) đối với rotavirus giúp rút ngắn thời gian tiêu chảy cho người bệnh [41]. + Probiotic có thể sinh ra các thành phần hữu cơ có tác dụng ức chế vi sinh vật gây bệnh.
4 Các vi khuẩn probiotic đặc biệt là vi khuẩn lactic sinh ra các thành phần axít hữu cơ như acid lactic, acid acetic, ethanol có tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh [42]. + Ngoài ra sự phát triển của vi khuẩn probiotic còn có khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh thông qua việc cạnh tranh nguồn thức ăn. ➢ Kích thích và tăng khả năng đáp ứng miễn dịch của vật chủ. Các nghiên cứu cho thấy: sự có mặt của vi khuẩn probiotic tạo thành môi trường có pH thấp với các thành phần bacteriocin, các peptid và sinh các loại acid béo liên kết thành các mạch ngắn hay việc bám của vi khuẩn vào nhu mô ruột sẽ kích thích hệ thống miễn dịch tập nhiễm (innate immune response).
Kết quả là kích thích sự hoạt động của đại thực bào tiết ra protein miễn dịch IgA, thông qua tế bào T để sinh ra các loại cytokine khác nhau như Interferon (IFN-γ), IL-10, IL-4 [42]. ➢ Giảm pH của hệ tiêu hóa và tác dụng tích cực đến hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi cho vật chủ. Trong hệ tiêu hóa của vật chủ có 1013-1014 tế bào vi sinh vật khác nhau. Chúng được chia thành 3 nhóm chủ yếu: nhóm có lợi cho vật chủ như Lactobacilii, Bifidobacterium, một số nấm men và Bacillii.
Nhóm có hại cho vật chủ: như Staphylococcus, Clostridium, E.coli và nhóm vừa có lợi vừa có hại như Enterococii. Sự có mặt của vi khuẩn lactic làm giảm pH theo hướng bất lợi cho nhóm vi sinh vật có hại do đó làm thay đổi cân bằng quần xã vi sinh vật đường ruột có lợi cho vật chủ [45]. ➢ Giảm cholesterol trong máu và hạn chế các bệnh liên quan đến tim mạch. Vi khuẩn probiotic được biết có vai trò sinh ra acid hữu cơ, làm giảm acid béo, thành phần cholesterol trong máu và ức chế quá trình phát triển của các khối u, ung thư [36].Các nghiên cứu chỉ ra rằng các vi khuẩn Lactobacilii và 5 Bifidobacterium không chỉ sinh ra các acid hữu cơ mà còn trực tiếp sử dụng lipit và các thành phần cholesterol trong máu [52].
➢ Phục hồi cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột sau khi sử dụng chất kháng sinh. Sau khi sử dụng kháng sinh, thông thường cơ thể dễ bị tiêu chảy do các chất độc sinh ra từ sự phát triển của Clostridium. Việc xử lý với probiotic có chứa Lactobacilii và Sacchromycess cerevisiae có tác dụng giải độc tố ammonia và phenol cũng như ức chế sự phát triển của nhóm Clostridium [56]. ➢ Bất hoạt hay ly giải độc tố vi sinh vật.
Một trong những hoạt tính quan trọng của probiotic là làm bất hoạt và ly giải độc tố do vi sinh vật gây bệnh sinh ra. Một số độc tố được hấp phụ bởi vi khuẩn probiotic và một số được phân giải do cơ chế enzyme.2 : Hình ảnh bám dính của nấm men lên bề mặt của E. Các nghiên cứu cho thấy là vai trò của nấm men Sacchromyces boulardii không chỉ ức chế vi sinh vật với ethanol và hấp phụ vi sinh vật có hại cũng như độc tố của chúng mà còn sinh ra protease có hoạt tính phân giải độc tố cao [60]. ➢ Bổ sung các enzyme tiêu hóa và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cho vật chủ.
6 Các vi sinh vật đặc biệt là nhóm vi khuẩn có bào tử (Bacillii) không chỉ đáp ứng được nhiều đặc tính quan trọng của probiotic mà còn là nguồn enzyme hỗ trợ tiêu hóa cho vật chủ như: protease, lipase, amylase, cellulose…. ➢ Bổ sung thêm các thành phần vitamin nhóm B và acid folic cũng như các hoạt chất khác như GABA… có lợi cho vật chủ [63]. ➢ Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn: Quá trình trao đổi chất của vi sinh vật đường ruột cung cấp nguồn năng lượng quan trọng cho thành ruột, cung cấp đến 50% năng lượng hàng ngày cho tế bào biểu mô ruột kết (colonocytes), bằng cách lên men carbohydrate thành acid hữu cơ, chủ yếu là butyrate, trong trường hợp trẻ em bú mẹ là lactate. Những ích lợi rõ ràng đối với sức khỏe do probiotic mang lại là giảm các triệu chứng về suy hấp thụ lactose, kích thích tiêu hóa, kìm hãm chất gây ung thư và giảm hàm lượng cholesterol trong máu [37].
Ngoài các tác dụng quan trọng trên, các nghiên cứu gần đây cho thấy probiotic còn có tác dụng cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh liên quan đến các bệnh thần kinh như: bệnh giảm trí nhớ (aizheimer) và bệnh tự kỉ, trầm cảm.