Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm và tính chất của đất mặn Đất mặn là những loại đất có độ dẫn điện lớn hơn 4 dS/m ở 25°C tương đương với nồng độ muối hòa tan khoảng 2,56%o (cách tinh thông thường tại Việt Nam). Hiện nay, để đánh giá độ mặn của đất, trên thế giới người ta dùng đại lượng EC là độ dẫn điện của đất, có đơn vị là dS/m (1dS/m = 0,64%o). Các loại muối hòa tan muối phổ biến nhất hiện nay trong đất mặn là clorua, sunphat, canxi, natri và magié, Natri va clorua là các ion chiếm ti lệ nhiều nhất trong các loại đất mặn. Nhiều đất mặn có chứa lượng đáng kê của thạch cao [CaSOu2H›O].
Ngoài ra đất chứa nhiều muối hòa tan (1 — 1,5% hoặc hơn) như những loại muối tan là NaCl, NazSOx, CaCh, CaSO¿, MegCh, NaHCO:. Những loại mudi nay có nguồn gốc khác nhau (nguồn gốc lục địa, nguồn gốc biển, nguồn gốc sinh vật), nhưng nguồn gốc nguyên thủy của chúng là từ các thành phần khoáng của đá núi lửa. Trong quá trình phong hóa đá, những muối này bị hòa tan di chuyên tập trung ở những dang dat trũng không thoát nước (Lê Xuân Phương, 2009). Dat mặn là một van đề toàn cầu có ảnh hưởng đến khoảng 20% diện tích đất tưới tiêu và làm giảm năng suất cây trồng đáng kể (Qadir va ctv, 2014).
Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4%o xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Quá trình hình thành đất mặn ở đây chủ yếu do muối được tích tụ và đi chuyên theo mao dẫn rồi tích tụ ở tầng đất mặt, sau đó chảy tràn trên mặt đất theo kiểu rửa trôi (Abrol và Bhumbla, 1979). Theo báo cáo tổng hợp tình hình hạn hán, xâm nhập mặn khu vực miền nam 2019 — 2020 của Cục phòng chống thiên tai, mùa mưa năm 2019 trên lưu vực sông Mê Công xuất hiện muộn, thời gian mùa mưa ngắn, tổng lượng dòng chảy năm chỉ ở mức 3 trung bình — thấp. Dòng chảy về Đồng bang từ đầu mùa khô đến nay giảm nhanh, đang xuống ở mức rất thấp so với tài liệu trung bình nhiều năm (TBNN) từ 1980 đến nay.
Dựa vào nguồn sốc, đất nhiễm mặn được chia thành 2 loại là sơ cấp và thứ cấp. Nhiễm mặn sơ cấp là nhiễm mặn thông qua các quá trình tự nhiên như phong hóa vật lý, phong hóa hóa học và vận chuyển muối từ đá mẹ, trầm tích hoặc nước ngầm. Nước ngầm hòa tan các muối có trong đá bên trong lòng đất và được dâng đến gần mặt đất thông qua mao dẫn và bốc hơi của đất gây nhiễm mặn đất mặt. Những vùng không tiêu trong thời gian dài cũng xảy ra hiện tượng này.
Đất cũng có thê bị nhiễm mặn do nước biển ở những vùng ven biến khi lũ lụt, sóng thần hoặc do triều cường trong thời gian dài hình thành trầm tích biển. Nhiễm mặn thứ cấp bắt nguồn từ các hoạt động của con người như tưới tiêu trong nông nghiệp. Sự khan hiếm nước trong môi trường khô hạn đòi hỏi phải sử dung nước mặn ít hoặc mặn dé đáp ứng nhu cầu nước cho cây trồng. Việc sử dụng nước kém chất lượng này không hợp lý, đặc biệt là trên các loại đất có hệ thống thoát nước kém dẫn đến sự mao dẫn và bốc hơi của đất làm giảm giá trị tài nguyên đất (Daliakopoulos và ctv, 2016; Zaman và ctv, 2018).
Richards và ctv (1954) đã mô tả khả năng sinh trưởng của cây trồng qua 5 mức độ mặn khác nhau dựa trên ECe của đất (Zaman và ctv, 2018): - Không mặn (2 dS/m, nồng độ muối hòa tan: 0 - 1,28%): Ảnh hưởng của mặn gần như không đáng kẻ. - Mặn ít (từ 2 - 4 dS/m, nồng độ muối hòa tan: 1,28 - 2,56%): Năng suất của cây trồng nhạy cảm với mặn bị hạn chế. - Man vừa (từ 4 - 8 dS/m, nồng độ muối hòa tan: 2,56 - 5,12%): Năng suất của nhiều cây trồng bị hạn chế. - Man trung bình (từ 8 - 16 dS/m, nồng độ muối hòa tan: 5,12 - 10,24%): Chỉ những cây trồng chịu mặn mới duy trì được năng suất.
- Rat mặn (16 dS/m, nồng độ muối hòa tan: > 10,24%): Chỉ một vài cây trông chịu mặn cho năng suât đạt yêu câu.2 Tình hình xâm nhập mặn ở Việt Nam Ở Việt Nam, hai vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng xâm nhập mặn là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Riêng mùa khô 2015 - 2016, diễn biến xâm nhập mặn tại ĐBSCL được đánh giá là nặng nề nhất trong 100 năm qua và được dự báo còn dién biến xấu hơn trong những năm tiếp theo (Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2016). Theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, hạn mặn mùa khô 2019 — 2020 đã xảy ra nghiêm trọng hơn năm 2016. Với ranh mặn 4 g/l xâm nhập sâu 57 km theo sông Hàm Luông sâu hơn trung bình nhiều năm 24 km.
Vào tháng 1 năm 2020, xâm nhập mặn tiếp tục lắn vào cửa sông Cửu Long 45 — 66 km sâu hơn mùa khô 2016 từ 6 — 7 km. Tháng 5 năm 2020, phạm vi mặn tiếp tục vào sâu khoảng 100 — 110 km trên sông Vàm Cỏ, vào sâu 50 — 71 km đối với sông Tiền, vào sâu 70 km đối với sông Hậu và vào sâu 65 km đối với sông Cái Lớn. Tình hình xâm nhập mặn vẫn còn đang diễn biến phức tạp và mức độ mặn ngày cảng nghiêm trong hơn, Nguyễn Duy Khang va ctv (2008) đã dùng mô hình MIKE 11 dự báo sự xâm nhập mặn với nồng độ 2,5 g/l vào đất liền có thé lên đến 20 km vào năm 2030 và 50 km vào năm 2090. Đợt hạn - mặn lịch sử đã gây thiệt hại nặng nề cho 9/13 tỉnh thành ven biển, với độ mặn đạt đỉnh 4%o và có đến 11/13 địa phương trên cả nước công bồ tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Ca Mau, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Ninh Thuận (Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia, 2016).
Hơn nữa, có những nơi ranh giới mặn xâm nhập sâu vào đất liền lên tới 30 km. Theo báo cáo đến ngày 25/3/2016, có đến 170.000 ha lúa và gần 8.000 ha hoa màu bị thiệt hai (Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng chống thiên tai, 2016).3 Tình hình xâm nhập mặn trên thế giới Đất mặn là một vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng đến khoảng 20% diện tích đất tưới tiêu và làm giảm năng suất cây trồng đáng ké (Qadir va ctv, 2014). Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Xâm 5 nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bằng 4%o xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Quá trình hình thành đất mặn ở đây chủ yêu do muối được tích tụ và đi chuyền theo mao dẫn rồi tích tụ ở tầng đất mặt, sau đó chảy tràn trên mặt đất theo kiểu rửa trôi (Abrol và Bhumbla, 1979).
Người ta ước tính có trên 800 triệu hecta dat va 32 triệu hecta đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của muối trên toàn thế giới (FAO, 2015). Theo Ivushkm và ctv (2019) đã thực hiện nghiên cứu về điện tích đất bị nhiễm mặn trên toàn thé giới, sử dung công nghệ viễn thám, cơ sở dit liệu từ Hệ thống Thông tin Dat Thế giới (WoSIS) kết hợp mô hình hóa. Dữ liệu công bố có khoảng 1,1 tỷ hecta đất bị nhiễm mặn, trong đó 1 tỷ hecta nhiễm mặn nhẹ (2 - 4 dS/m); 19.800 ha nhiễm mặn trung bình (4 - 8 dS/m); 2.300 ha nhiễm mặn cao (8 - 16 dS/m) (Omuto và ctv, 2020).4 Cơ chế phản ứng của thực vật trong điều kiện mặn Stress ở thực vật là ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh đến sinh trưởng, phát triển hoặc năng suất của cây trồng. Căng thăng thực vật thường phản ánh một số thay đổi đột ngột trong điều kiện môi trường và được chia thanh hai loại chính là: stress phi sinh hoc va stress sinh học.
- Tác nhân gây stress sinh học ở thực vật là các sinh vật sông, đặc biệt là virus, vi khuẩn, nấm, tuyến trùng, côn trùng, nhện và cỏ dai gây ra. Những tác nhân nảy trực tiếp lay đi chất dinh đưỡng và làm chết cây vật chủ. - Các stress phi sinh học là những tác động vật lý, hoá học như hạn hán (stress nước), úng nước, nhiệt độ khắc nghiệt (lạnh, sương giá và nóng), độ mặn, độc chất khoáng và bức xa tia cực tim (UV) tác động tiêu cực đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hạt giống của thực vật (He và ctv, 2018). Trong tương lai, tình trạng khan hiém nước ngọt sẽ tăng lên dẫn đến cường độ căng thang phi sinh học cũng sẽ tăng theo.
Do đó, cần phải phát triển các chế phẩm hỗ trợ cây trồng hay các giống cây trồng có khả năng chống chịu với các áp lực phi sinh học để đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai (Audil và ctv, 2019). Stress mặn Stress do mặn là một vấn đề khó khăn và ngày càng trở nên nghiêm trọng bởi sự nhiễm mặn ngày càng gia tăng của đất canh tác trên toàn thế giới (Munns và Tester, 2008; Yuan và ctv, 2015). Đất mặn có áp suất thấm thấu cao nên cây không thé hút được nước nếu không có cơ chế thích nghi, do đó gây nên hiện tượng hạn sinh lý. Một số ion ở nồng độ thấp không độc nhưng ở nồng độ cao lại gây độc.
Các ion nay lại cạnh tranh với chất dinh dưỡng trong quá trình hút của rễ làm cho rễ khó hút chất dinh dưỡng. Thanh phần các muối trong đất mặn phổ biến là NaCl, NazSOa, Na2SOu, NaxCO3, MgCh, MgSO¿, các muối đó nồng độ cao đều gây độc cho cây (Phạm Đình Thái, 1987). Ở vùng đất mặn, sự tích tụ của các ion Na" này trong các mô thực vật ức chế quá trình quang hợp và tăng cường sự hình thành các loại oxy phản ứng (ROS). Những chất nảy (ROS) có nhiều tác động xấu đến cây trồng như tăng tốc độ phản ứng độc hại, có thé là đột biến DNA, phân hủy protein và tốn thương mang ( Islam và ctv, 2015; Sudhrr và Murthy, 2004).