CHƯƠNG I TỘI ĐÀO NGŨ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM A. QUI DINH CUA PHÁP LUAT HÌNH SƯ VỀ TÔI ĐẦU NCU: 1. CO SỞ TRÁCH NHIÊM HÌNH SƯ CUA HANH VI ĐÀO NGU: Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ phận nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân đân Việt Nam, là quân đội từ nhân đân mà ra, vì nhân đân phục vụ. mang ban chất của giai cấp công nhân, đặt dudi sự lãnh đạo tuyệt đối.
trực tiếp, tập trung thông nhất về mọi mặt của Dang cộng sản Việt Nam. Quan đội nhân dan Việt Nam có trách nhiệm cùng với toàn dan bao vệ vững chac độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và chê độ Xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ chủ yếu là luôn cảnh giác, sẵn sàng và chiến đấu thang lợi trong mọi tình huống, van động nhân dan chấp hành đường lối. chủ trương.
chính sách của Dang, pháp luật Nhà nước, lao động san xuất xây dung đât nước và làm tròn nghĩa vụ Quốc tê. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quân đội. điều 48 Hiến pháp nước Cong hoà Xã hoi chủ nghĩa Việt Nam qui định:” Nhà nước phát huy tinh than yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dan, giáo dục quốc phòng và an nình cho toàn dân, thực hiện chê độ nghĩa vu quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc "phòng, bảo dam đời sống vật chất và tinh than của cán bộ và chiến sỹ. công nhân, nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dânvững mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.
, Và diéu 77 Hiến pháp qui định: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyển cao quí của cong dan. Công dan phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dan. Thực hiện nghĩa vụ và quyền của mình, công dân trong đội tuổi và đủ điều kiện theo luật nghĩa vụ quân sự qui định phục vụ trực tiếp trong quân đội, là người được nhân dân giao nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Quân nhân phải tuyệt đối trung thành với Dang, với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, triệt để chấp hành đường lối, chủ trương chính sách của Đăng, pháp luật cua Nha nước và ky luật quân đội, phải bao vệ danh dự của quân nhân cách mạng, truyền thống vinh quang của quân đội và đơn vi mình phục vụ.
Những quân nhân không chịu rèn luyện, tu dưỡng, ngại khó khăn gian khổ, không hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. rời bỏ hàng ngũ quân đột nhằm trốn tránh nghĩa vụ, trách nhiệm mà mình có bổn phan phải hoàn thành là vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệnh ky luật của quân đội. Hậu quả của việc đào ngũ là hạ thấp tính kỷ luật, làm giảm sức chiên đấu của quân đội, ảnh hưởng tới hoạt động chiến đấu, huấn luyện, công tác thường xuyên của đơn vi. Đào ngũ gây anh hưởng xấu đến tinh thần, tư tưởng của bộ đội.
làm khó khăn thêm cho công tác lãnh đạo, chỉ huy của đơn vị, ngoài ra còn gây khó khăn cho việc quan lý xã hội của địa phương, gây dư luận xấu và ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà Hiến pháp và pháp luật qui định cho mỗi công dân. Việc chấp hành các qui định của điều lệnh quản lý bộ đội là bắt buộc, là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi quân nhân. Quân nhân vi phạm các qui định của điều lệnh là không làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, là xâm phạm đên trật tu quân sự đã được xác lập trong quân đội. Hanh vi đào ngũ không những đã xâm phạm đến trật tự quân sự mà nguy hại hơn là xâm phạm tới sức manh chiên đấu của quân đội.
Để dam bao tăng cường kỷ luật, tăng cường kha năng sẵn sàng chiến đâu và sức mạnh về mọi mặt của quân đội, các hành vi đào ngũ phải được xử lý nghiêm minh bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có các biện pháp pháp lý. Trong số các biện pháp pháp lý, biện pháp hình sự phat được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu. Vì vậy, pháp luật hình sự nước ta qui định hành vi đào ngũ là tội phạm. Tội phạm này thuộc vào nhóm các tội xâm pham nghĩa vu, trách nhiệm của quân nhân.
SƠ LƯỢC LICH SỬ VỆ TÔI ĐÀO NGỮ TRƯỚC KHI BAN HANH BỘ LUAT HINH SL: Ngay e sau khi chính quyền cách mang + Sy trong len ca nước được H thành lập. ` các doi quân xâm lược nước ngoài cấu kết với bọn phan động trong nước hoạt động chông phá cánh mạng rất quyết liệt với âm mưu tiêu điệt Nhà nước nhân dân non trẻ của chúng ta. Dap ứng với tình hình đó, để giữ vững nền độc lập. tự do mới giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị "nhanh chóng chấn chỉnh, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung "!!, Thực hiện chỉ thị đó, tháng 9/1945, các lực lượng vũ trang ở các địa phương đã phát triển nhanh do được bổ sung từ các tổ chức du kích.
tự vệ và được xây dựng thành quân đội quốc gia (Vệ quốc đoàn). Ngày 25/3/1946 Chính phủ ra sắc lệnh số 34 qui định tổ chức Bộ quốc phòng, ngày 22 tháng Š năm 1946 Chính phủ ban hành sắc lệnh số 71 ấn định qui tắc của lục quân Việt Nam. Vệ quốc quân chính thức trở thành Quân đội quốc gia của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, có tổ chức biên chế thống nhất thành từng đơn vị đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn. Do đặc điểm mới được tổ chức trong thời gian ngăn, lại có các bộ phận của các tổ chức và các dang phái khác nhau hợp thành.
các thé lực thù địch luôn tìm mọi cách làm suy yếu, đã xuất hiện một số phan tử chống đốt, âm mưu phá hoại sức mạnh chiến đấu. tính thông nhất của quân đội. Hầu hét cán bộ , chiến sỹ trong quân đội dũng cảm, không sợ hi sinh, sian khô để chiến đấu và công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Song bên cạnh đó cũng còn một số ít người đo bị kẻ địch mua chuộc, lôi kéo hoặc đo lạc hậu, sợ hi sinh, gian khổ ác liệt, nên đã có hành vi vi phạm pháp luật của Nhà nước, ky luật của quân đội, gây tác hai rất lớn đến việc xây dung va nâng cao sức mạnh chiến đấu.
Việc xử lý các quân nhân phạm tội nghiêm trọng bằng quân luật như trước không còn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng. chống tội phạm. Do đó sắc lệnh 71 ngày 22/5/1946 đã qui định rõ về tổ chức. hoạt động, quan hệ hành chính quân sự giữa các cấp, thẩm quyền khen thưởng, ky luật đối với cán bộ, chiến sỹ thuộc quyền.
Riêng đối với những người phạm tội, sắc lệnh qui định cách trừng phạt bao gồm: phạt tù có thời hạn. giam trong những nhà lao thường, khổ sai hoặc tử tình. Quyền quyết định trừng phat trọng tội thuộc toà an bình. [171 tổng két 50 năm xây dung và hoạt động của ngành TAQS 1945 - 1995 - Toàn án Quan sự TW- NXB QĐND năm 1995, trang 15 Ngày 23 thang 8 năm 1946 Nhà nước ta ban hành sắc lệnh 163 thành lập Toa án binh lâm thời để xét xử các quân nhân và những người khác phạm tội gây thiệt hạt cho quân đội.
Sắc lệnh 163 ra đời trong bối cảnh tình hình đất nước, tình hình quân đội đòi hỏi phải có một văn bản pháp lý mới để phục vụ yêu cầu nhiệm vu chính trị của cách mạng, kịp thời và kiên quyết trừng trị những phần tử phản cách mang xâm phạm đến nền độc lập dân tộc và xâm phạm đến sức chiến đấu của quần đội. Trong sắc lệnh, ngoài việc qui định thành lập các Toà án binh lâm thời, còn qui định cụ thể một số tội hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án Binh xét xử. Tại điểm e, điều 7 qui định tội đào ngũ như sau: - “Từ 6 tháng đến 5 năm tù nếu đào ngũ không mang theo võ khí hay vật gì quan trọng của nhà bình giao cho. - Từ 2 đên 10 năm tù nêu đào ngũ mà lại đem theo võ khí hay đồ vật gì ` quan trọng của nhà bình giao cho, hoặc nêu rủ nhau đào ngũ từ 2 người trở lên.
- Từ 5 năm đến 10 năm khổ sat, nếu rủ nhau đào ngũ từ 2 người trở lên mà lại đem theo võ khí hay đồ vật gi quan trọng của nhà binh giao cho hoặc rủ nhau dao ngũ từ 2 người trở lên khi có quân địch ở dang trước”1., Như vậy, theo qui định ở điểm e, điều 7 viện dan trên, ta thấy rằng đây là một van bản pháp luật đầu tiên qui định về tội đào ngũ, là cơ sở pháp lý cụ thé cho các Toà án binh khi xét xử tội đào ngũ. Do bối cảnh lúc bấy eid cua Nhà nước ta gap rất nhiều khó khăn như: Các thê lực thù địch tìm mọi cách chống phá cách mạng rất quyết liệt, với âm muu triệt tiêu Nhà nước non tre vừa thành lập. Lợi đụng chính sách dai đoàn két, hoà hop dan tộc của Dang và Nhà nước ta, bọn phan động tay sai của dé quốc tìm mọi cách chui vào hàng ngũ chính quyền cách mạng, chống phá chính quyền từ trong nội bộ. M1 Sac lệnh 163/651, ngày 23-8-1916.
Công báo tap 1 năm 1946, trang 171 10 Tinh hình trong quân đội lúc đó cũng chịu ảnh hưởng chung của tình hình dat nước: Do mới được tổ chức, biên chế, lại có các bộ phan của các tổ chức và các dang phái khác nhau hợp thành: các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách làm suy yếu, nên đã xuất hiện một số phần tử chống đối, âm mưu phá hoại sức mạnh chiến đấu của quân đội. Các tội phạm như: Đào ngũ thông với quân địch, tự ý phá huy cơ quan. Để bảo vệ sức mạnh chiến dau củng cố tỏ chức và ky luật quân đội. chống lại các hành vi phá hoại của các thê lực, điều luật đã qui định hành vi của bất kỳ quân nhân nào, dang nam trong biên chê cơ cấu tổ chức của các đơn vị quân đội mà rời khỏi vị trí chiến dau, rời khỏi nơi đang học tập, công tác mà không được phép của người chỉ huy đều coi là đào ngũ và đều có thể bị đưa ra truy tố trước pháp luật.