Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thƣơng lƣợng tập thể và pháp luật về thƣơng lƣợng tập thể Chương 2: Quy định về thƣơng lƣợng tập thể trong Bộ luật lao động năm 2012 Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thƣơng lƣợng tập thể trong Bộ luật lao động năm 2012 và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TLTT trong thực tế. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƢƠNG LƢỢNG TẬP THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THƢƠNG LƢỢNG TẬP THỂ 1. Khái quát về thƣơng lƣợng tập thể 1. Định nghĩa về thương lượng tập thể Thƣơng lƣợng là một phần của đời sống hàng ngày.
Tại nơi làm việc, thƣơng lƣợng là cơ sở cho việc tìm kiếm sự cân bằng giữa các lợi ích của ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động và tiến tới các điều kiện và phạm vi việc làm chấp nhận đƣợc đối với hai bên trong quan hệ lao động. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thƣơng lƣợng tập thể đƣợc hiểu là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với ngƣời sử dụng lao động nhằm để xây dựng quan hệ lao động hài hòa và tiến bộ; xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thỏa ƣớc lao động tập thể (TƢLĐTT); để giải quyết những vƣớng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trong quan hệ lao động, thƣơng lƣợng đƣợc hiểu là quá trình thỏa thuận nhằm đạt tới sự thống nhất ý chí giữa NSDLĐ và NLĐ. Có 2 hình thức thƣơng lƣợng trong quan hệ lao động: thứ nhất là thƣơng lƣợng cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động cá nhân xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động, thứ hai là thƣơng lƣợng tập thể diễn ra giữa đại diện của một số hoặc tập thể NLĐ với một số NSDLĐ hoặc đại diện của những ngƣời sử dụng lao động nhằm hƣớng tới việc thống nhất những vấn đề trong quan hệ lao động mang tính tập thể.
Trong khoa học pháp lý tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa và cách hiểu về thƣơng lƣợng tập thể khác nhau: Khái niệm thƣơng lƣợng tập thể trong Từ điển Luật học đƣợc giải thích 7 z nhƣ sau:“Thương lượng tập thể là việc bàn bạc, thỏa thuận giữa đại diện của tập thể người lao động và người sử dụng lao động nhằm đạt tới sự thỏa thuận về nội dung của thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp” [4]. Theo cách giải thích của các chuyên gia tổ chức lao động quốc tế ILO và cách hiểu khá phổ biến ở các nƣớc có lịch sử phát triển lâu đời về thƣơng lƣợng tập thể thì: thỏa ƣớc tập thể thực chất là một dạng kết quả của quá trình thƣơng lƣợng tập thể; thƣơng lƣợng tập thể có thể diễn ra ở nhiều phạm vi với các cấp độ hết sức khác nhau. Cũng có ý kiến cho rằng, thƣơng lƣợng tập thể nhƣ là một cách thức vận hành “cơ chế hai bên” giữa NSDLĐ và NLĐ, thƣơng lƣợng tập thể chính là cốt lõi của “cơ chế hai bên” trong việc điều hòa mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ. Tổ chức Lao động quốc tế ILO (International Labour Organization, viết tắt ILO) đã thống nhất đƣa ra định nghĩa thƣơng lƣợng tập thể tại Điều 2 Phần I công ƣớc 154 – Công ƣớc về xúc tiến thƣơng lƣợng tập thể 1981 nhƣ sau: Thuật ngữ thƣơng lƣợng tập thể là chỉ tất cả các cuộc thƣơng lƣợng diễn ra giữa NSDLĐ, một nhóm ngƣời SDLĐ hay một hoặc nhiều tổ chức của NSDLĐ (giới chủ) với một hay nhiều tổ chức của NLĐ nhằm: a, xác định điều kiện làm việc và các điều khoản việc làm; b, điều tiết các mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ; c, điều tiết các mối quan hệ giữa NSDLĐ hoặc tổ chức của ngƣời SDLĐ với một hay nhiều tổ chức của NLĐ.
Với cách tiếp cận này, có thể thấy các bên trong thƣơng lƣợng tập thể chính là các bên trong quan hệ lao động tập thể, mục đích của thƣơng lƣợng tập thể là giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích tập thể của NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động chủ yếu là xác lập các điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động và vấn đề việc làm hoặc điều tiết các quan hệ lao động (đặc biệt là khi xảy ra tranh chấp lao động tập thể). Theo tổ chức lao 8 z động quốc tế ILO, thƣơng lƣợng tập thể có thể xem nhƣ một hình thức đối thoại xã hội ở mức cao nhất. Trƣờng hợp thứ nhất, nếu thƣơng lƣợng tập thể đƣợc sử dụng nhƣ một biện pháp để xác lập những thỏa thuận chung giữa các bên về điều kiện lao động, việc làm, tiền lƣơng… thì kết quả cao nhất của thƣơng lƣợng tập thể chính là sự ra đời của thỏa ƣớc tập thể. Trƣờng hợp thứ hai, nếu thƣơng lƣợng tập thể đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng thức để giải quyết các tranh chấp lao động tập thể thì kết quả của việc thƣơng lƣợng thành công sẽ dẫn tới thỏa thuận chung giữa các bên tranh chấp về vấn đề đang mâu thuẫn.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách tƣơng đối đầy đủ về thƣơng lƣợng tập thể nhƣ sau: TLTT là hình thức trao đổi, thảo luận, đàm phán giữa tập thể lao động và một hoặc nhiều người sử dụng lao động ở các cấp khác nhau về điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động hoặc giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quan hệ lao động nhằm đạt được những thỏa thuận chung thống nhất. Đặc điểm của thương lượng tập thể Từ định nghĩa đƣợc phân tích ở trên, có thể rút ra đƣợc các đặc điểm của thƣơng lƣợng tập thể nhƣ sau: Chủ thể thương lượng tập thể: TLTT thƣờng diễn ra giữa ngƣời sử dụng lao động và đại diện ngƣời lao động. Sức mạnh của tập thể ngƣời lao động hạn chế đƣợc sự bất bình đẳng giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động trong suốt quá trình thƣơng lƣợng. Ngoài hai đại diện thƣơng lƣợng tập thể trên, thực tế nhiều quốc gia trên thế giới còn có sự xuất hiện của bên thứ ba trong quá trình thƣơng lƣợng… Mục đích của thương lượng tập thể: mục đích chủ yếu của TLTT là để thiết lập các thỏa thuận chung về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động.
TLTT hƣớng tới việc phòng ngừa mâu 9 z thuẫn trong quan hệ lao động thông qua việc thiết lập các thỏa thuận chung hoặc trực tiếp giải quyết các mâu thuẫn đã phát sinh dẫn đến sự tồn tại của tranh chấp lao động tập thể. Phạm vi tiến hành thương lượng: TLTT diễn ra đa dạng ở nhiều cấp khác nhau nhƣ: cấp bộ phận doanh nghiệp, cấp doanh nghiệp, cấp địa phƣơng, cấp ngành… Tƣơng ứng với phạm vi vận dụng cơ chế thƣơng lƣợng tập thể, sẽ có thể hình thành các bản thỏa ƣớc tập thể các cấp nếu quá trình thƣơng lƣợng tập thể thành công. Trên thế giới, có những quốc gia có nhiều cấp thƣơng lƣợng, tỷ lệ lao động đƣợc áp dụng thỏa ƣớc lao động tập thể cao nhƣ Slovenia, Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch, New Zealand, Úc… Trong đó, hình thức thƣơng lƣợng tập thể cấp ngành diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các nƣớc Châu Âu và một số ngành quan trọng ở Hàn Quốc, Nhật, Mỹ. Còn hình thức thƣơng lƣợng tập thể ở cấp doanh nghiệp đƣợc áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc, Thái Lan, Philipin… Phương thức tiến hành thương lượng tập thể: TLTT là một quá trình đƣợc tiến hành dƣới nhiều hình thức khác nhau.
Các bên có thể gặp nhau liên tục hoặc định kỳ hàng năm hoặc một khoảng thời gian nào đó để tiến hành thƣơng lƣợng. Dù hình thức thƣơng lƣợng có thể khác nhau nhƣng quá trình này đều đƣợc tiến hành theo một trình tự chung, bắt đầu từ việc đƣa yêu sách, tranh luận, phản biện, nghiên cứu tính toán lợi ích và cân nhắc để đƣa ra quyết định cuối cùng của các bên. Và chúng ta nên lƣu ý rằng thƣơng lƣợng tập thể không thành công có thể là nguyên nhân dẫn đến đình công.Vì lẽ này mà quá trình thƣơng lƣợng cần có thời gian, sự cẩn trọng và ý thức hợp tác, xây dựng cùng có lợi giữa các bên. Các loại thương lượng tập thể Có hai tiêu chí để phân loại thƣơng lƣợng tập thể: đó là phân loại theo cấp thƣơng lƣợng, theo nội dung thƣơng lƣợng và mục đích thƣơng lƣợng.
10 z Thứ nhất: Theo cấp thƣơng lƣợng có 3 loại thƣơng lƣợng tập thể, đó là TLTT cấp doanh nghiệp, TLTT cấp ngành và TLTT cấp địa phƣơng. Thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp: nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng loại TLTT này vì nó có nhiều ƣu điểm hơn hẳn các loại TLTT khác, đó là tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng trong việc tạo ra những điều kiện làm việc cụ thể tại doanh nghiệp, phù hợp với đa số ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động tại các doanh nghiệp. Chủ thể tham gia loại TLTT này bao gồm đại diện NLĐ và NSDLĐ. Đại diện NLĐ thƣờng là tổ chức Công đoàn, hoặc là đại diện do NLĐ cử ra trong một số trƣờng hợp đặc biệt.
TLTT cấp ngành: Đây là hình thức thƣơng lƣợng tập thể đƣợc tiến hành giữa hai chủ thể là công đoàn ngành (đại diện cho ngƣời lao động trong ngành) và đại diện ngƣời sử dụng lao động ở cấp ngành. Ƣu điểm của loại này là phạm vi thƣơng lƣợng rộng giúp tăng sự đoàn kết của những NLĐ trong phạm vi toàn ngành, song chính điều đó lại trở thành nhƣợc điểm là nó không linh hoạt với điều kiện của từng doanh nghiệp. Chủ thể của hình thức này là Công đoàn ngành và đại diện NSDLĐ ở cấp ngành. TLTT cấp địa phương: với sự tham gia của các doanh nghiệp trong phạm vi địa phƣơng.
Hình thức này có thể bao gồm: thƣơng lƣợng tập thể giữa một số doanh nghiệp trong cùng một ngành tại địa phƣơng; thƣơng lƣợng tập thể giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một địa phƣơng. Chủ thể tham gia quá trình TLTT cấp địa phƣơng là đại diện Công đoàn ở cấp địa phƣơng và đại diện của giới sử dụng lao động tại địa phƣơng đó. Các chuyên gia tổ chức lao động quốc tế ILO khuyến cáo các quốc gia đang phát triển nên áp dụng hình thức này nhằm bình ổn các quan hệ lao động, hạn chế tranh chấp lao động tập thể và đình công ở các địa phƣơng.