Mở đầu bằng “Những mô tả truyền thống về thơ sijo”, tác giả đề cập đến cấu trúc ba chương, sáu câu, mười hai nhịp, khoảng bốn mươi lăm âm tiết của một bài sijo chuẩn. Cách triển khai nội dung trong sijo được tác giả gọi là “cấu trúc tu từ” và cho rằng cấu trúc tu từ này học theo thơ tứ tuyệt Trung Hoa: sự trình bày và sửa soạn công phu trong hai câu đầu tiên, một cú "ngoặt" trong phần đầu của câu thứ ba, lên cao trào và kết lại trong phần còn lại của câu thứ ba. Cuối phần 1, tác giả đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa các tiết nhịp (eumbo) với các đơn vị của ngôn ngữ tự nhiên là gì? Liệu chúng có liên quan thế nào đến vần luật, ngữ pháp và âm vị học? Câu hỏi đó được giải quyết trong phần “Cấu trúc cú pháp của thơ sijo”. Bằng việc phân tích cấu trúc cú pháp trong từng câu một của một số bài sijo, tác giả đưa ra nhận định rằng bốn điểm ngắt hơi giữa các tiết nhịp trong câu thơ thường tương ứng với bốn “lát cắt cú pháp”, nghĩa là mỗi tiết nhịp tương ứng với một đơn vị cú pháp như nhóm giới từ, nhóm động từ, nhóm danh từ… trong câu.
Như vậy cấu trúc cú pháp là “bộ xương” cho sijo. Về bố cục âm nhạc trong thơ sijo, tác giả mô tả cách hát lên một bài sijo, trong đó các khoảng lặng, ngắt hơi khi hát thường tương ứng với các tiết nhịp của sijo, ngoại trừ âm tiết cuối cùng của tiết nhịp thứ tư và tiết nhịp thứ tám, tức là âm tiết cuối của chương đầu và chương giữa sẽ được ngắt ra hát riêng thành một tiểu đoạn âm nhạc, và tiết nhịp cuối cùng của chương kết (tiết nhịp thứ mười hai) sẽ bị bỏ sót không hát lên khi trình diễn. Như vậy khi hát một bài sijo, người ta sẽ ngắt thành mười ba tiểu đoạn nhạc. Khảo sát tiếp cách lên và xuống giọng khi hát, tác giả cho rằng sự thay đổi độ cao thấp khi xướng ca hoàn toàn phụ thuộc vào trọng âm trong tiếng Hàn.
Tác giả đã chứng minh được vai trò quyết định của trọng âm trong việc ngắt hơi, ngắt nhịp ở mỗi bài sijo. -12- Về sự phân phối âm tiết trong thơ sijo, tác giả đã chỉ ra biên độ dao động về số lượng âm tiết trong mỗi nhịp của bài sijo là rất rộng, thực chất quy tắc về số âm tiết trong sijo không hề quan trọng, việc mỗi nhịp thơ có mấy âm tiết là tùy thuộc vào ngữ pháp và ngữ nghĩa. Kết luận của Richard McCann qua công trình nghiên cứu này là “thơ sijo phải được nhìn nhận như một thể thơ dựa vào trọng âm, không phải âm tiết.134] Nghiên cứu của Richard McCann đã đưa ra những kiến giải mới về sijo, trong khi chúng ta vẫn thường chú ý nhiều vào số âm tiết trong mỗi tiết nhịp của sijo và nghĩ rằng luật thơ sijo quy định số âm tiết phải có trong mỗi bài, thì tác giả lại cho rằng ngữ pháp và trọng âm mới là điều quyết định việc tổ chức một bài sijo. Tuy nhiên, nghiên cứu của Richard McCann có điểm chưa thỏa đáng ở chỗ đối tượng mà ông khảo sát là hai mươi chín bài thơ của mười lăm tác giả đều là kisaeng (kỹ nữ).
Đối tượng này quá cá biệt, lẽ ra tác giả nên khảo sát sijo của các sĩ phu nho giáo thì hợp lý hơn bởi đây mới là đội ngũ sáng tác sijo chủ yếu. Tình hình dịch và nghiên cứu thơ sijo tại Việt Nam 2.1 Tình hình dịch sijo Cho đến nay, tại Việt Nam có ba dịch giả đã chạm đến sijo: Một là dịch giả Phan Nhật Chiêu với sáu bài sijo của Hwang Chin-I, một bài của So Kyong Dok và một bài của Im Che. Tám tác phẩm này được công bố trong bài nghiên cứu so sánh “Hoàng Chân Y và Hồ Xuân Hương & Huyền thoại người nữ” [46]. Tác giả dịch thành dạng thơ tự do, thường là bốn, năm chữ mỗi dòng, cả bài có sáu dòng, có gieo vần.
7 Hai là Thái Bá Tân với bản dị Thái Bá Tân cũng chuyển thành thơ tự do, mỗi bài sáu dòng, có gieo vần. Tuy nhiên bản 7 http://thaibatan.php?option=com_content&task=view&id=1122&Itemid=32 -13- dịch này không thể dùng làm tư liệu nghiên cứu vì lý do: thứ nhất, tác giả dịch qua trung gian là tiếng Nga; thứ hai, tất cả các bài thơ được dịch đều không có tên tác giả sáng tác; thứ ba, các bản dịch này mang tính ngẫu hứng, chúng tôi đã thử so sánh và thấy tính chính xác không cao. Ba là Đào Thị Mỹ Khanh- người đã dịch sách - Park In Gee- Chung Byung Heon- Choi ByeongWoo- Yoon Bun Hee ra tiếng Việt [28]. Trong sách này, tác giả chuyển ngữ mười ba bài thơ sijo sang thể thơ tứ tuyệt hoặc ba dòng, gồm thơ của các tác giả Lee Cho Nyon ( ), Lee Hwang (N ), Im Che ( ), Kye Rang (Hoa lê rơi trong mưa), Sin Hum ( ), Yoon Seon Do ( ), Kim Chon Taek (Mâ ), Kim Soo Chang ( ), Park Hyo Kwan ( ), An Min Yeung ( ), Park Moon Uk ( ).
Như vậy, ở Việt Nam, sijo được dịch rất ít, và trong đa số trường hợp, tính đáng tin cậy của các bản dịch không cao. Tình hình nghiên cứu Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sách hay công trình chuyên luận nào về sijo. Chỉ có thể điểm qua một số bài nghiên cứu sau đây: Tài liệu sớm nhất là phần viết về sijo của Nguyễn Long Châu trong sách Nh năm 2000 [2]. Phần này rất sơ lược, Đến năm 2009, có tài liệu so sánh “Những nét tương đồng và dị biệt của thơ sijo (Hàn Quốc) và thơ haiku (Nhật Bản)- nhìn từ đặc trưng thể loại” của Hà Văn Lưỡng [19].
Trong bài viết này, tác giả đã so sánh thơ sijo và haiku, chỉ ra một số điểm tương đồng như sau: -14- Về nguồn gốc ra đời và tiến trình phát triển: cả hai đều bắt nguồn từ những thể thơ ca dân gian cổ, phát triển qua nhiều thế kỷ để trở thành thể thơ truyền thống của mỗi dân tộc, và đều vượt ra khỏi biên giới dân tộc để được nhiều người trên thế giới yêu thích. Về đặc điểm cấu trúc thể loại, sijo và haku là hai thể thơ có cấu trúc ngắn gọn và cô đọng nhất so với các thể thơ ở khu vực và trên thế giới. Cả hai đều chỉ có ba dòng thơ, ý nghĩa trọng tâm thường nằm ở dòng thơ cuối. Về nội dung phản ánh, cả hai đều hướng về thế giới tự nhiên, ca ngợi những cảnh đẹp của bốn mùa.
Về đội ngũ sáng tác, ở cả hai thể thơ, ban đầu lực lượng sáng tác và thưởng thức chỉ bó hẹp trong một tầng lớp và với một phạm vi nhất định, nhưng dần dần phát triển ra các tầng lớp khác tạo thành một đội ngũ sáng tác và thưởng thức đông đảo. Tác giả cũng chỉ ra điểm khác biệt lớn nhất giữa hai thể thơ, đó là sijo phản ánh tư tưởng Nho giáo, trong khi haiku chuyển tải tư tưởng Thiền tông của Phật giáo. Như vậy, trong khi so sánh, tác giả đã chỉ ra được những yếu tính của sijo. Tuy dung lượng ngắn, nhưng bài viết đã thâu tóm được những điểm tương đồng và dị biệt nổi rõ giữa hai thể thơ.
Chỉ có điều, nói “cả hai đều chỉ có ba dòng thơ”, tác giả chưa thấy được cái khác rất lớn về dung lượng của sijo so với haiku. Tuy sijo cũng có ba chương, nhưng mỗi chương dung lượng lớn hơn là một “dòng thơ” theo đúng truyền thống thơ ca rất nhiều. về nội dung phản ánh, cho rằng “cả hai đều hướng về thế giới tự nhiên, ca ngợi những cảnh đẹp của bốn mùa” xem ra chưa đầy đủ và chưa thỏa đáng. Tiếp theo là bài viết “Hoàng Chân Y và Hồ Xuân Hương & Huyền thoại người nữ” của Phan Nhật Chiêu.
Bài viết này so sánh hai tác gia về cuộc đời, quan niệm và thơ ca, gồm cả thơ chữ Hán và thơ dân tộc- với Hoàng Chân Y là sijo, với Hồ Xuân Hương là thơ Nôm. Như vậy nội dung về sijo chỉ là một phần rất nhỏ trong bài viết. Theo tác giả, cả Chân Y và Xuân Hương đều nổi tiếng về diệu tài sử dụng ngôn ngữ -15- dân tộc đầy tinh tế, thuần khiết, độc đáo và tuyệt vời. Có những bài thơ của họ ngôn từ giản dị và thuần Hàn hoặc thuần Việt, và họ đều là bậc thầy trong việc sử dụng những từ láy âm tuyệt diệu.
có bài viết “Sijo, thể thơ truyền thống của người Triều Tiên” của La Mai Thi Gia [50]. Đây là bài viết ngắn tác giả lược dịch và tổng hợp từ hai công trình về sijo là An anthology of Korean Poetry và Love Pomes from old in Sio from8. Trong khoảng 4 trang giấy, bài viết giới thiệu sơ nét về thể thơ này và một số tác giả tiêu biểu. Bài viế và không đưa được kiến giải mới nào về sijo.
Trên đây là bức tranh nghiên cứu sijo tại Hàn Quốc, trên thế giới và tại Việt Nam. Tại Hàn Quốc, sijo đã được nghiên cứu rất toàn diện. Chúng tôi cho rằng trong tương lai chúng ta cần dịch những công trình nghiên cứu đó ra tiếng Việt, bởi chắc chắn không có người Việt Nam nào có thể viết về sijo thấm thía như chính người Hàn Quốc. Trong lúc chờ đợi một công trình như thế, chúng tôi vẫn mạnh dạn tiến hành nghiên cứu của mình, không mong có thể sâu sắc được như những công trình đã có tại Hàn Quốc, song ít ra chúng tôi cũng đưa được những kiến giải của riêng mình về thể thơ này.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài Mụ 8 Do tác giả không chú thích rõ nên chúng tôi không xác định được nguồn và tác giả của hai công trình này. Phương pháp nghiên cứu 5.1 Những phương pháp chung - Phương pháp phân tích. - Phương pháp tổng hợp.2 Những phương pháp chuyên ngành - - - - - - -17- - - - ầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về sijo tại Việ Để thực hiện đượ ồng thời dịch và giới thiệu 88 ẳn sẽ là chiếc cầu nối những người yêu thơ tại Việt Nam đến với một thể thơ đầy sức hấp dẫn mà xưa nay chúng ta chưa có dịp chiêm ngưỡng. -18- v , n ,b - - ) t i Korea trong sijo.
Điều này xuất phát từ tính thuần chủ ốt bao nhiêu thế hệ từ ến tận thế kỷ ức sâu sắc về “dân tộ ọ ủ on, tất cả ạn tuyển tậ (김춘택- 金春澤, 1670-1717), Kim Sujang (김수장- 金壽長, 1690 1769), Pak Hyo Gwan (박효관- 朴孝寬, 1781-1880) 안민영- 安玟英, 1816-?