Chương I TỔNG QUAN 1.1 Mỏi trường lao động, ô nhiêm mòi trường lao động liên quan dến sức khoè và bệnh tật cùa người lao động: Ngày 5 - 7/5/1996 Hội thảo lần thứ nhất vé mỏi trường tại bộ khoa học công nghệ vé môi trường, các nhà khoa học đả dùng cụm từ chì thị mồi trường (Environmental indicator), đó là tạp hợp các chi sô' vẻ môi trường (các yêu lô vật lý, hoá học và sinh học có thể là dại diên cho việc đánh giá vể hiện trạng của môi trường nào đó như đất. nước, không khí. của một khu vực. một sô' cơ sở sàn xuíít, một nhà máy xí nghiệp, một dịa phương hay một quốc gia [231.
Sức khoẻ công nhân là thước do tổng hợp Irạng thãi cùa mỏi trường lao dộng hay nói cách khác sức khóe cõng nhan thường chịu tác động bới các yêu tô' trong mỏi trường lao động đó là 191: - Các yếu tố vạt lý: nhiệt độ, dô ấm. tóc độ gió, ánh sáng, áp suất, bức xạ nhiệt, tiếng ổn, bức xạ diên lừ. - Các yếu tố hoá học: khí co. và các hoá chất khác.
- Bụi (yếu tỏ lý hoá) - Các yếu tô' vi sinh vật: vi khuẩn và nâ'm mốc. Hiện nay, công nghÍỂp dược coi là nguổn quan trọng nhãt gây ổ nhiềm mởí trường, nguổn góc cua nó rấl da dạng. Ô nhiểm nơi làm việc đặc trưng bảng sự có mật của các chất, yếu tó lý, hoá có hại và là nguyên nhân gây ra bộnh nghề nghiởp cho công nhân: Đó là đối lượng nghiởn cứu cùa vô sinh lao dông [19], 1.2 Những nghiên cứu vẽ ô nhiễm môi trường lao dộng anh hường đến sức khoè người lao động. ❖ Trên thê' giới: Theo y vân, vấn để ô nhiửm môi I rường lao động và lác động của nó đến sức khoẻ con người đã điKK để cập lừ thời Hyppocrate (460 377 trưức công nguyên).
5 Cuốn “lịch sử tự nhiên'’ (De historĩa natural is) ờ thế kỳ thứ nhất cùa Pline đả nhác tới một loại khắu trang phòng hộ, đeo che mũi, miệng đổ tránh híi phải bụi và hơi chì do sản xuất sinh ra ưong các nhà máy. Thế kỷ thử hai, Gallien cũng nẽu lên một vài bệnh do tác động cùa yếu tố ô nhiêm nghe' nghiệp phát sinh trong các nhà máy [35]. Thế kỷ thứ X. XI dã có nhiều nghiên cứu dé cập tới sức khoé người lao động, điển hình thợ mò khai thác bạc ở dãy núi Hartz vùng Silesia và Bohemia, đã xuất hiện những bệnh án đổu tiên vé bệnh do ổ nhiểm mồi trường gây ra và bui được coi lù nguyên nhân gãy bệnh [75],(84], Thế kỷ thứ XVI, George Bauer, một thầy thuốc ở vùng mỏ đã mỏ là lổn thương dường hô hấp của cống nhan khai thác mỏ và luyện kim.
Óng cho rang nguyên nhân là do ỏ nhiễm bụi trong quá trình sán xuất. Bụi dã xâm nhập vào phổi gảy khó thớ, ỉln mòn phổi và tàn phá cơ thổ công nhân [80]. Đến thế ký XVII, Ramzzini với lác phẩm nổi tiếng: “Bênh của người lao động" õng dược coi là người sáng lập ra ngành vệ sinh lao dộng [35], ❖ Việt Nam : Ở nước ta hiện nay bỄn cạnh cơ sờ sản xuất đầu tư hàng tỷ đổng để đổi mới dây chuyên cõng nghê, sử dụng công nghẹ sạch thì đa phần các cơ sở sản xuất vẫn tiếp lực vật lộn vớí cơ sớ vật chất cũ, với hệ thóng máy móc lạc hậu, chính vì vậy ô nhiêm môi trường lao dộng ngày càng gia táng, công nhân luyện gang, thường xuyên phải làm việc trong môi (rường nhiệt đô irung bình từ 32”c dừn 34°c. nhiột đồ cao nhất lới 43bc, liêng ổn vượt quâ liêu chuán cho phép (trên 85dBA) và bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 17 lẫn [12], Tại hội nghị khoa học quốc tế y học lao dộng và vệ sinh mõi trường lần thứ nhất (Hội nghị khoa học y học lao động loàn quốc lổn ĩhứ V) tháng 11 nãm 2003.
Có 168 đe 6 lài nghiên cứu vẻ môi trường lao động, ô nhĩỏm mòi trường lao động liủn quan đến sức khoẻ và bệnh lật của người lao động (rong đó có các đế tài: * Đánh giá ánh hường chất lượng môi trường của sức khoé người lao động ngành giấy của Nguyền Thị Toán. * Đánh giá môi (rường lao dộng và lình hình bênh phổi phế quàn cùa cổng nhân khai thác than tại công ly Đỏng Bắc Quảng Ninh cùa Nguyễn Tiến. + Mối trường lao động và sức khoẻ công nhân công ty giây Bãi Bàng. Phú Thọ của Phùng Văn Hoàn * Một só đắc điểm dịch tế học bệnh bụi phổi siỉic cùa cồng nhân sàn xuất vât liệu xây dựng cùa L4 Thị Hàng.
* Bệnh bụi phổi silic trong cổng nhân một số ngành nghé ở Thai Nguyổn của Đó Hàm. * Ánh hưởng của mõi (rường lao động lén sức khoẻ công nhân cõng ly đá ốp lát và xây dựng Bình Định của Trịnh Công Tuấn * Hiện trạng mỏi trường lao động và những vấn dé vể an toàn sức khoe nghé nghiệp trong ngành sân xuát vật HCu xây dựng cùa Nguyễn Trinh Hương. * Môi trường lao động và sức khoè cùa công nhân lại một số nhà máy xí nghiệp quốc phòng của Nguyẻn Quang Hùng. Các vấn đề trên dà đé cập tới ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp cùa ô nhỉẻm môi trường lới sức khóe của người lao động ờ một sổ ngành nghé cụ (hỂ.
Theo báo cáo của cục y (é dự phông chỏng H1V/AIDS; Nàm 2003 (rong 60 dơn vị (ỉnh thành tiên hành khảo sát môi trường lao động cho 2277 cơ sớ với lổng sỏ' mẫu do là 148. trong dó các yếu tố bụi. sô' mảu vượt liêu chẩn cho phép (áng 3.2%, ánh sáng khỗng đạt lãng 7.so với nam 2002, có 13.5% sô' mãu hơi khí độc vượt liêu chuẩn cho phép [7 j. Số mẫu đo môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép lại một só dịa phương, tinh, thành phố công nghiệp còn cao; Thái Nguyên, số mẫu bụi vượt TCCP chiêm tới 63,4%, sò mẫu ón vượt vượt TCCP 45.
Tại Quang Ninh, mảu đo bụi vượt TCCP chiếm 34.9%, 7 mâu đo ổn vượt 57,4%. Tại ngành Than, mẫu bụi vượt TCCP chiổin 56,1%, mầu ổn vượt TCCP lới 32.7%, Ngành giao thỡng vận tải, mảu bụi vượt TCCP là 46,3% , sỏ' mẫu nhiệt dỏ vượt TCCP chiêm tới 61,8% [7J. Mỗi trường lao động cùa 17 nhà máy, xí nghiệp quổc phòng. Liếng ổn vượt TCCP là 58/64 phân xướng (90.6%) và 100 mẫu bụi VƯỢT TCCPtừ 1,3 đến 1.6 lán, TNT tại 60 điểm đo của 4 nhà máy dcu vượt TCCP lừ 2-3 lán và có tới 22,1% mác bệnh điếc nghé nghiêp.
và nhiỀm độc TNT nghe nghiệp là 26. Mồi [rường lao động bị ô nhiẽm đa ảnh hường trực liếp Lới sức khoẻ và bệnh tật cua công nhản. Trong năm 2003, toàn quốc đả khám cho 56.899 người công nhân tiếp xúc với các (ác nhân gây bệnh nghể nghiệp, có 4,774 người công nhân (8.3% ) được chăn đoán mác bệnh nghê nghiệp, ưong đó bệnh bui phổi siỉic chiếm 49%, điếc nghé nghiệp do tiếng ổn là 34.4% và các bệnh nghé nghiệp khác là 16,6% [7], Theo Boettcher và cộng sự. những bệnh nghe nghiệp chính trong ngành sân xuất vật ỉiệu xảy dựng là bệnh bụi phổi silic, bệnh dice do tiẾng ổn.
bệnh cơ xương khớp và bệnh ngoài da [8]. Các nghiên cứu [rong và ngoài nước dều chi ra rang ở môi trường lao động có nhiều bụi, đặc bíẹt là bụi có hàm lượng SiO2 cao. thì mô hình bệnh tạt chú yếu là bệnh phổi phế quản và bệnh nghê nghièp có tỷ lẹ cao nhất chính ỉà bệnh bụi phổi silic [33],[34],[35].3 Bệnh bụi phổi silic.1 Lịch sử nghiên cứu vé bênh bui phổi silic. Bệnh bụi phổi si lie (BPSi) là bệnh nghé nghiệp dược người ta biết đến từ lâu.
Ngay lừ thời cổ xưa. người la đã nhân thấy rất nhiéu công nhân lao dộng tiếp xúc vái bụi có các triệu chứng khó thờ và tức ngực và dược coi là bệnh phé quàn mãn lính. Vào khoảng nàm 400 trước cởng nguyên, Hyppocrate đã mơ tà hiên tượng khó thờ nặng và đau tức ngực với thể trạng gáy yếu của những người thợ mỏ với những lính chất đặc irưng của bệnh BPSÌ nghề nghìộp [33]. Cho đê'n thể ký 10- 11, những bệnh án đầu tiên vé bệnh bụi phổi mới được mô tã ở công nhản khai thác mò kim loại quí tại dãy núi Hartz, vùng Silesia và Bohemia.
Chính từ những ghi chép này. bụi đà dược công 8 nhận là một tác hại nghé nghiệp. Bệnh lý bệnh BPSi càng về sau càng được nghiên cứu nhiều. 9 Thuật ngữ Silicosis dược đưa ra lần đầu tiên vào năm 1871.
khi Visconti lìm thấy SiO; trong phối của tử thi. mặc dù trước đó Ramazz. Thê ký thứ XVĨII, ờ châu Âu được phép mổ lử thí, người ta phát hiện được thể u ử phổi của công nhân mỏ. trong đó có một số nhà khoa học người Pháp [33].
Hội nghị đâu tiên VẾ bệnh nghé nghiệp được tổ chức tại Johannesburg (Nam Phi), tại hội nghị này các nhà khoa học đã đưa ra thống nhất về định nghĩa và bàng phân loại bệnh SPSi đầu liên [52]. Từ đó tới nay, bệnh SPSi vân được coi là bệnh khá phổ biến, hoàn toàn nguyên nhản do nghé nghiệp và thực sự là mối quan tâm của nhiêu quổc gia, vì vây đã có nhìéu hội nghị quốc tê' bàn vẻ các biện pháp phòng chổng bệnh này. Ở Việt Nam, bệnh phổi cùa thợ mỏ sau khi xác định không phái do lao. Bệnh phôi nghé nghiẹp được cố giáo sư Phạm Ngọc Thạch và các nhà khoa học lúc đó đề cạp.
nó làm tiền dẻ cho việc phát hiện ra bệnh SPSi cùa thợ mõ và một số ngành nghề khác như thợ đúc kim loại, công nhân gạch chịu lửa, say nghiên khoáng sàn. cùa những năm 60 - 70 thê kỳ XX. Bệnh SPSi là một những bênh nghé nghiỏp được bào hìém sớm nhất trong danh sách các bệnh nghé nghiệp, dược quy định tại thõng tư liủn bộ sổ' 08 - TTLB ngày 19/5/1976 cùa Bộ Y Tê' - Bộ Lao Động Thương hĩnh xã hội và Tóng lièn đoàn lao động Việt Nam. Từ năm 1976 đen nay.
bẹnh SPSi vân là bệnh nghé nghiẹp phổ biến, có tý lệ cao nhất trong số 21 bệnh nghẻ nghiệp được bào hiổm. Tý lẹ giám định bệnh BPSi chiêm 89,7<; trong sô các bệnh nghe nghiệp [18]. Só' cõng nhân mắc bệnh BPSÍ cho tới nay là hơn 10.000 trường hợp. Đây chỉ là sỏ' irường hợp bệnh được phát hiện trong sô cõng nhan dược khám, thực te sô' được khám phát hiện bộnh BPSi chi chiêm dược khoảng 20% - 30% số công nhân có nguy cơ [31 Ị, 1.2 Đặc điérn dịch té học bệnh BPSi - Trên the' giới.