CHƯƠNG 1: HOÀN CANH LICH SỬ 1. Hoàn cảnh quốc tế 1. Sự tan rã của trật tự thé giới hai cực và sự sụp đỗ của Liên Xã. Sau khi Chiến tranh thể giới thứ hai kết thúc, cuộc Chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô — Mĩ và Đông — Tây đã diễn ra rất căng thăng, nhưng Án Độ - một nước vừa mới thoát khỏi ach đỗ hộ của thực dan Anh, đã có những hoạt động tích cực, nang động va sáng tạo trong cuộc dau tranh vi quyền lợi của những quốc gia vừa mới gianh được độc lập.
An Độ là một trong những nước đầu tiên tham gia Liên Hợp Quốc (1945) và có nhiều đóng góp cho tổ chức quốc té này cũng như các hoạt động bảo vệ hòa bình trên thể giới. Đặc biệt, An Độ là nước sáng tạo ra con đường đi mới — con đường đi giữa trong trật tự thé giới hai cực của thời ky nay, dé là con đường “Không liên kết" và được hon 100 quốc gia đi theo. Với những hoạt động tích cực, năng động trên, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, An Độ nỗi lên với tư cách là người đứng dau các nước thẻ giới thử ba, có một tiếng nói có trọng lượng vả vị trí đáng né trẻn trường quốc tế. Nhưng tới năm 1991, khi Chiến tranh lạnh kết thúc, sự tan rã của trật tự thé giới hai cực đã khiển cho Phong trảo Không liên kết, một lực lượng chính trị đứng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa vả xã hội chủ nghĩa không còn có vai tro quan trọng như thời ky trước nữa, vị thé của An Độ với tư cách là một trong những nước lãnh đạo của Phong trào Không liên kết do 46 cũng bị suy giảm trên trường quốc tế, mặc di An Độ đã có những hảnh động tích cực để duy trì những hoạt động của Phong trao Không liên kết trong thời kỳ mdi va gop phan quan trong đưa tới sy thanh công của hội nghị cấp cao lan thứ 10 của phong trao tai Giacacta vào đầu tháng 9/1992.
Nhưng có thé nói rang, cùng với Phong trảo Không liên kết, An Độ đã không còn có vai trò như nó đã có trước day nữa. Day cũng chính lả một yếu tố quan trọng khiến An Độ phải có những thay đổi chính sách đổi nội cũng như đổi ngoại để xác lập cho minh một vị trí quốc tế xứng dang trong một trật tự thể giới mới đang hình thành. Khi Chiến tranh lạnh đang đi đến hỏi kết thúc thì Liên Xô lại phải đổi mặt với những khó khăn võ cùng to lớn. Ngày 16/7/1990, Ukraine tuyên bé độc lập vào cuỗi năm 1990, các quốc gia như Kazakhtan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Uzbekistan và Turkmenistan ( các nước cộng hòa Trung A-CARs) tuyên bé tách khỏi Liên Xô.
Đến cuỗi năm 1991, nhiều nước Đông Au va Trung A thuộc Nga lan lượt tuyên bố độc lập. Trang 8 tình hình trong nước khủng hoảng tram trọng đã đưa tới sự sụp dé của Liên Xô (25/12/1991). Tuy là một nước Không liên kết nhưng An Độ lại có nhiều quan điểm gan gũi với Liên Xô: Chẳng chủ nghĩa để quốc, ủng hộ Phong trảo dau tranh giải phỏng dan tộc bảo vệ sự nghiệp hòa binh trên thể giới.Trong thoi kỳ chiến tranh lạnh, sự gắn bỏ giữa Liên Xô va An Độ đã làm nghiêng hẳn cán cân có lợi cho lực lượng hòa bình, dân chủ va cho phong trào đầu tranh giải phóng dân tộc. Đặc biệt, sau khi quan hệ Xô — Trung căng thăng va sau cuộc chiến tranh Trung - An 1962, quan hệ Xô - An ngay cảng trở nên mật thiết.
Liên Xõ là chỗ dựa vô cùng vững chắc cho An Độ, Thủ tướng Néru đã áp dụng mô hình công nghiệp hỏa của Liên Xô vào mô hình phát triển của Án Độ. Các nhà máy chủ chết trong nên công nghiệp phân lớn được xây dựng với sự hợp tác và giúp đỡ của Liên Xô. Đây là những nha máy sản xuất chiếm 80% tổng sản lượng thiết bị luyện kim, 60% thiết bị, 35% sản lượng thép, 70% sản lượng khai thác dau, 30% sản lượng chế biển dau, 20% sản lượng điện. Từ 1955 đến 1977, Liên Xô đã giúp Án Độ đảo trên 96000 công nhân, trong đó 19000 công nhân có trình độ đại học và trung học, 77000 công nhân lành nghẻ'.
Vẻ thương mại, Liên Xô là bạn hàng lớn thứ hai của An Độ vả là bạn hang“ dễ tinh” ma An Độ có thể xuất mọi sản phẩm tir nông nghiệp tới các hàng công nghiệp tiêu dùng mà không bị đòi hỏi khắt khe về chất lượng. Sự sụp đỗ của Liên Xô đã làm cho An Độ mắt đi nguồn đảo tạo nhân lực, nguồn viện trợ chính, cùng thị trường xuất khẩu quan trọng, con số 11 tỷ USD (trong tông số 70 tỷ USD ~ chiếm 23% GDP năm tải khóa 1990 — 1991) ma An Độ nợ Liên Xõ đã phan nao nói lên mức độ hing hụt trong nên kinh tế của quốc gia Nam A nay. Cuộc chiến tranh vùng Vịnh (1990-1991). Đầu thang 8/1990, phot lờ lời kêu gọi rút quân va khôi phục nguyễn trạng Kumait của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Irắc chiếm đóng Kuwait, các lực lượng quân sự của Mĩ và hơn 20 quốc gia khác đã tiễn hanh cuộc chiến chống Irắc.
Tháng 12/1991, trắc buộc phải rút khỏi Kuwait. Chiến tranh vùng Vịnh đã có những tác động xấu tới tình hình kinh tế thé giới, trong đó có An Độ. Nhu cầu về đầu mỏ va các sản phẩm đầu mỏ phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá của An Độ đã gặp rất nhiều khỏ khăn. Chỉ trong giai đoạn 1990 - 1991, giá dau ' Tài liệu tham khảo của Tass ngày 23/11/1978, tư liêu bộ ngoại giao CHXHCN Việt Nam, Trang 9 nhập khẩu của An Độ đã tăng 21,9% (tinh bằng đồng ru-pi).
Nếu như năm 1965, chi phí dành cho nhập khẩu nang lượng của Án Độ khoảng 8% giá trị xuất khẩu thi tới năm 1990. con số đỏ đã tăng lên tới 25%. Sự bắt ổn định về nguồn cung cấp dầu cùng giá dầu tăng cao là nguyên nhân trực tiếp khiến Án Độ phải tìm kiếm nguồn cung cấp dau mới và Đông - Nam A là khu vực mà An Độ hướng tới. Ngoài ra, chiến tranh vùng Vịnh đã khiến Án Độ mắt đi một khoản tài chính lớn từ những lao động người An làm việc tại I-rắc và Cô-oét.
Tình hình chính trị bất ôn định của khu vực Nam A. Vào đầu những năm 90, các Phong trao Sin-di va Ba-lu-chi ở Pa-ki-xtan, Phong trảo của người Né-pan ở Bu-tan, người Tê-rai ở Né-pan, người Cha-kma ở Băng-la-đét và người Ta-min ở Xri Lan-ca lại nỏi lên, gây nên tình trạng bất ôn trên toàn khu vực Nam Á. Năm 1985, Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) được thành lập với sự tham gia của hầu hết các nước Nam Á. Tuy nhiên, ngay từ khi mới thành lập, cơ chế hợp tác này đã có nhiều hạn chế.
Nếu Ản Độ lo ngại các nước sử dụng diễn đàn này đẻ chỉ trích và cô lập mình trong những tranh chấp song phương, thì Pa-ki-xtan cũng có mỗi lo là An Độ sẽ nắm vai trò lãnh đạo toàn khu vực thông qua tổ chức này. Chính vì vậy, một nguyên tắc trong hiển chương của SAARC là không tranh luận những van dé gây bất đồng trong quan hệ song phương tại các cuộc họp của hiệp hội. Vẻ kinh tế. hau hết các nước Nam A là những nước đang phát triển ở trình độ thấp, cần nhiều vốn và kỳ thuật.
Trong khi đó, An Độ tuy là nước có trình độ phát triển vào bậc nhất trong khu vực nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn vả kỹ thuật cho các nước thành viên của SAARC. Thêm vào đó, những bắt đồng giữa An Độ và Pa-ki-xtan về vấn dé Gia-mu và Ca-xmia, giữa Án Độ và Băng-la-đét về vấn đề phân chia nguồn nước của một số con sông. là những trở ngại lớn đối với hợp tác khu vực Nam Á. Hoàn cảnh trong nước: 1.
Điều kiện tự nhiên: An Độ là một nước nằm ở khu vực Nam A, diện tích rộng: 3.590 km’, phía Bắc giáp Trung Quốc, Nepal, Bhutan, phía Đông Bắc giáp Mianma, Bangladesh, phia Tây giáp Pakistan, phía Đông và Nam giáp Án độ Dương, Án độ có 7000 km bờ biển, vị trí của An Độ thuận lợi cho giao thong quốc té. trao đôi kinh tế, văn hóa với các nước. Trang 10 An Độ có địa hình đa dạng, thiên nhiên hing vi, nui cao, đồng bằng và cao nguyên rộng lớn. Địa hình cua An Độ gồm 3 miền: Miền Bắc: là hệ thông núi Hymalaya ( nóc nha của thé giới).
có nhiều đỉnh nui cao, tuyết bao phủ quanh năm, đây là nơi có đỉnh Kanchenjunga ( 8.598 m) cao nhất Án Độ và cao thứ ba thé giới. vùng này có phong cảnh đẹp, kỳ vĩ, có nhiều lâm sản quý (tram, gỗ tếch, chè Atxam), có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như Shimla, Daziling hấp dẫn du khách, địa hình ở đây khá hiểm trở, khó khăn cho phát triển giao thông. Miễn Nam là cao nguyên Dé can rộng lớn, xung quanh cao nguyên bao bọc bởi day núi Đông Gát và Tây Gát là vùng đồng bảng duyên hải nhỏ hẹp, thuận lợi cho việc trồng các loại cây nông phẩm nhiệt đới, trên day núi ở phía nam An Độ có khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp môi trường trong lành, vùng nội địa cao nguyên Dé Can có khí hậu khô lạnh, lượng mưa ít, thực động vật nghèo nan, đất đai bị thoái hóa, không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhưng đây là vùng có nhiều khoáng sản. Miền giữa là vùng đồng bing An - Hằng, có diện tích lớn nhất ở Nam A (350.
Đồng bằng này do dat phù sa của hai hệ thông sông An và sông Hang bồi đắp nên đất dai rất màu mờ, là yếu tố hình thành nuôi đường nền văn minh Án Độ cổ đại của loài người, và là điều kiện quan trong phát triển nền nông nghiệp. Đồng bằng Ấn - Hằng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, giao thông và phát triển kinh tế của Án Độ. Khí hậu: An Độ có khí hậu đa dạng, miễn Bắc có khí hậu ôn hòa, trên vùng núi cao có khí hậu cận nhiệt, miền Nam có khí hậu nhiệt đới và xích đạo, phần lớn lãnh thỏ của An Độ nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, gió mùa Tây — Nam thổi từ An Độ Dương chi phối nhiều đặc điểm khí hậu của An Độ. Lượng mưa của An Độ phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian, mưa thường tập trung nhiều từ tháng 6 đến tháng 10.
Sông hồ: Án Độ có nhiều sông, miền Bắc và miền Nam sông ngòi có đặc điểm khác nhau. Sông Hằng dài 2.