Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có hơn 5.400 làng nghề và làng có nghề đang hoạt động, trong đó khu vực Đồng bằng sông Hồng tập trung hơn 60% tổng số cơ sở sản xuất toàn quốc. Riêng thành phố Hà Nội dẫn đầu cả nước với khoảng 1.350 làng nghề đang đóng góp đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, theo các báo cáo quan trắc của ngành môi trường, có đến hơn 46% làng nghề đang trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, biến các vùng nông thôn trù phú thành điểm nóng về sinh thái. Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề an ninh môi trường làng nghề – một nội dung cốt lõi của an ninh phi truyền thống – thông qua trường hợp điển hình tại làng nghề chế biến nông sản Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là nhận diện toàn diện thực trạng ô nhiễm và các bất cập quản lý tài nguyên; phân tích các tác động tiêu cực của suy thoái môi trường đối với sự ổn định chính trị - xã hội, đà tăng trưởng kinh tế và sức khỏe cộng đồng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xã hội học và chính sách quản trị rủi ro môi trường. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ năm 2010 khi xã Dương Liễu bắt đầu triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg đến năm 2018. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa quy trình quản trị, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 40% đến 50% các nguy cơ xung đột môi trường cục bộ và nâng cao năng lực thích ứng sinh thái cho hơn 13.000 cư dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng phối hợp 2 hệ lý thuyết nền tảng trong xã hội học môi trường gồm: Lý thuyết xung đột môi trường (Environmental Conflict Theory) và Lý thuyết xã hội rủi ro (Risk Society Theory). Lý thuyết xung đột môi trường của Libiszewski, Homer-Dixon, Spillmann và Manson cung cấp khung phân tích về các tương tác xung khắc giữa các nhóm xã hội nảy sinh từ sự khan hiếm tài nguyên, suy thoái không gian sống và hành vi xả thải gây hại. Lý thuyết xã hội rủi ro của Ulrich Beck và Anthony Giddens được dùng để lý giải sự chuyển biến của xã hội hiện đại hóa, nơi các rủi ro nhân tạo từ sản xuất công nghiệp hóa quy mô nhỏ phân bổ không đồng đều và đe dọa ngược lại cấu trúc an sinh của cộng đồng.

Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tương tác giữa 3 nhóm yếu tố môi trường (ô nhiễm nước thải, rác thải, khí thải và bất cập quản lý quy hoạch đất đai) với 3 chiều cạnh an ninh làng nghề: ổn định trật tự xã hội, an toàn tăng trưởng kinh tế và sức khỏe dân cư. Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm then chốt: An ninh môi trường theo Khoản 28 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; An ninh phi truyền thống; Xung đột môi trường; và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới gồm 19 tiêu chí ban hành theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu của luận văn được tích hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh làm chủ nhiệm, kết hợp với các đợt khảo sát bổ sung sơ cấp tại thực địa.

Cỡ mẫu khảo sát định lượng gồm 250 hộ gia đình tại địa bàn xã Dương Liễu. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm chia tách rõ rệt 2 nhóm đối tượng: 140 hộ trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến nông sản và 110 hộ thuần nông hoặc kinh doanh dịch vụ phi chế biến. Về phương pháp định tính, tác giả thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan, bao gồm cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, đại diện hội đồng nhân dân, ban quản lý cụm công nghiệp làng nghề, trưởng các thôn xóm và các hộ dân sinh sống giáp ranh khu vực ô nhiễm nặng.

Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định lượng và định tính là nhằm đối chiếu chéo giữa số liệu thống kê mức độ thiệt hại với nhận thức chủ quan, thái độ và hành vi ứng phó của người dân, bảo đảm tính khách quan và chiều sâu phân tích xã hội học. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai liên tục trong khoảng thời gian 18 tháng, từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 12 năm 2017 và hoàn thiện nghiệm thu trong năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô ô nhiễm nước thải và chất thải rắn làng nghề vượt xa ngưỡng tự làm sạch của tự nhiên. Trong vụ sản xuất cao điểm kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, làng nghề Dương Liễu tiêu thụ hàng trăm tấn củ sắn và dong riềng mỗi ngày, thải ra môi trường ước tính khoảng 5.000 m3 nước thải hữu cơ chưa qua xử lý và hơn 150 tấn bã thải nông sản mỗi ngày. Có 82,4% hộ dân được phỏng vấn khẳng định mùi hôi thối và nguồn nước ô nhiễm ngấm vào đất là vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt.

Thứ hai, nguy cơ xung đột xã hội tiềm ẩn và căng thẳng cộng đồng ngày càng hiện rõ. Kết quả điều tra thực địa cho thấy 64,8% hộ dân nhóm phi chế biến bày tỏ sự bức xúc cao độ đối với hành vi xả thải bừa bãi và lấn chiếm lòng đường phơi bã của các hộ chế biến, tăng 21,5% so với giai đoạn trước khi cơ giới hóa sản xuất. Ngoài ra, việc thu hồi đất và giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Cụm công nghiệp làng nghề Dương Liễu quy mô 34 ha đã làm phát sinh hơn 12 vụ khiếu kiện tập thể do bất đồng về giá đền bù và cơ chế phân bổ mặt bằng sản xuất.

Thứ ba, suy thoái môi trường tạo nên lực cản nặng nề đối với tăng trưởng kinh tế bền vững. Mặc dù nghề chế biến nông sản đóng góp tới 65% tổng thu nhập của toàn xã, nhưng chi phí khắc phục hạ tầng đường giao thông bị hư hại và chi phí đầu tư giếng khoan tầng sâu để tìm nguồn nước sạch đã làm tiêu tốn ước tính khoảng 8,5% tổng doanh thu hàng năm của các hộ gia đình.

Thứ tư, an sinh sức khỏe của cư dân địa phương bị suy giảm nghiêm trọng. Tỷ lệ cư dân mắc các bệnh lý liên quan đến môi trường ô nhiễm như bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da và tiêu hóa tại xã Dương Liễu chiếm 43,6%, cao hơn khoảng 18,2% so với các xã thuần nông lân cận không có làng nghề chế biến.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng bất an ninh môi trường tại Dương Liễu bắt nguồn từ sự bất tương xứng giữa trình độ cơ giới hóa chế biến tinh bột với năng lực hạ tầng kỹ thuật môi trường nông thôn. Lợi ích kinh tế tư nhân hóa tối đa trong khi chi phí ngoại ứng môi trường lại bị đẩy cho cộng đồng gánh chịu, phản ánh chính xác quy luật bi kịch của tài nguyên công cộng.

Dưới góc nhìn lý thuyết xã hội rủi ro của Ulrich Beck, Dương Liễu là ví dụ điển hình của việc chuyển giao rủi ro sinh thái từ nhóm hưởng lợi kinh tế sang nhóm cư dân yếu thế. Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Hòe năm 2012 và Nguyễn Tuấn Anh năm 2016, luận văn đã chứng minh rằng các mâu thuẫn làng nghề không chỉ là tranh chấp dân sự thông thường mà đã phát triển thành các xung đột xã hội mang tính cấu trúc.

Để hỗ trợ theo dõi trực quan, các dữ liệu thực nghiệm trên có thể được hệ thống hóa qua 2 dạng bảng và biểu đồ phân tích chuyên sâu:

  • Biểu đồ tương quan tuyến tính thể hiện mối quan hệ nghịch đảo giữa sản lượng củ sắn chế biến theo mùa vụ và chỉ số oxy hòa tan (DO) trong hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng.
  • Bảng ma trận phân loại xung đột xã hội thể hiện tỷ lệ phần trăm các vụ tranh chấp đất đai, nguồn nước và không gian công cộng phân theo 3 nhóm chủ thể: chính quyền địa phương, hộ sản xuất làng nghề và hộ dân thuần nông.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và vận hành tối đa công suất Nhà máy xử lý nước thải làng nghề Cầu Ngà với công suất thiết kế 20.000 m3/ngày đêm. Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm hoàn tất việc đấu nối 100% hệ thống cống gom nước thải từ các cơ sở chế biến trong toàn xã, đặt mục tiêu đưa nồng độ BOD và COD trong nước thải sau xử lý đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT trước quý 4 năm 2021.

Thứ hai, thực hiện tái quy hoạch và hỗ trợ di dời dứt điểm 85% các cơ sở chế biến tinh bột quy mô vừa và lớn vào Cụm công nghiệp làng nghề Dương Liễu rộng 34 ha. Ban Quản lý dự án huyện Hoài Đức và Ủy ban nhân dân xã Dương Liễu cần công khai minh bạch phương án giao đất sản xuất, đồng thời triển khai gói tín dụng ưu đãi với mức hỗ trợ lãi suất từ 2% đến 3%/năm trong giai đoạn 2019-2022 để khuyến khích các hộ gia đình tự nguyện bàn giao mặt bằng trong khu dân cư.

Thứ ba, thiết lập và duy trì hoạt động của 6 Tổ tự quản bảo vệ môi trường tại 6 thôn của xã Dương Liễu. Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã Dương Liễu chỉ đạo các tổ chức đoàn thể như Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên huy động 100% hội viên tham gia giám sát cộng đồng, duy trì tần suất kiểm tra thực địa tối thiểu 2 lần mỗi tuần để ngăn chặn kịp thời các hành vi xả trộm bã và nước thải đậm đặc ra sông Đáy.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng giải pháp công nghệ kinh tế tuần hoàn trong xử lý phế phẩm nông sản. Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội phối hợp với các hợp tác xã chế biến tinh bột Dương Liễu xây dựng chuỗi liên kết tận thu bã dong riềng và bã sắn để sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc cùng phân bón vi sinh hữu cơ, hướng tới mục tiêu tái chế 90% khối lượng chất thải rắn hữu cơ phát sinh hàng ngày trong giai đoạn 2020-2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý môi trường và cơ quan chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tại các cấp thành phố, huyện và xã. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm, đồng thời xây dựng các quy chế quản trị xung đột đất đai và tài nguyên tại các vùng nông thôn công nghiệp hóa.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Xã hội học, Khoa học Môi trường, Phát triển Nông thôn và Chính sách Công. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu liên ngành, ứng dụng hiệu quả lý thuyết xã hội học hiện đại vào phân tích các vấn đề an ninh phi truyền thống tại Việt Nam.

Thứ ba, chủ các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các phân tích rủi ro trong luận văn để nhận thức rõ các chế tài pháp lý, chi phí ngoại ứng và đón đầu xu thế chuyển đổi công nghệ sản xuất sạch hơn nhằm bảo tồn thương hiệu làng nghề truyền thống.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các cơ quan phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn sinh thái nông thôn. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu xác thực về sinh kế và sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng các dự án tài trợ phát triển bền vững và viện trợ kỹ thuật xử lý rác thải làng nghề.

Câu hỏi thường gặp

An ninh môi trường làng nghề khác gì so với an ninh truyền thống?

An ninh truyền thống tập trung bảo vệ chủ quyền biên giới, lãnh thổ và thể chế chính trị trước các nguy cơ tấn công quân sự ngoại bang. Ngược lại, an ninh môi trường là bộ phận của an ninh phi truyền thống, hướng vào việc bảo vệ không gian sống, nguồn nước, không khí trước các nguy cơ ô nhiễm nhân tạo, ngăn chặn tình trạng suy giảm sức khỏe của hơn 13.000 người dân và triệt tiêu mầm mống xung đột xã hội cục bộ.

Vì sao xã Dương Liễu đạt chuẩn nông thôn mới nhưng vẫn đối mặt với bất an ninh môi trường?

Xã Dương Liễu được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nhờ hoàn thành tốt các chỉ tiêu kinh tế, giao thông và thu nhập bình quân đầu người đạt trên 38 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, việc duy trì Tiêu chí số 17 về môi trường thiếu tính bền vững do lượng nước thải 5.000 m3/ngày vẫn thải thẳng ra môi trường tự nhiên, cho thấy khoảng cách giữa thành tích hành chính và chất lượng sinh thái thực tế.

Xung đột môi trường tại làng nghề Dương Liễu biểu hiện cụ thể qua những hình thức nào?

Xung đột biểu hiện dưới 3 hình thức chủ yếu: tranh chấp không gian sản xuất khi các hộ chế biến lấn chiếm đường giao thông để phơi bã nông sản; mâu thuẫn gay gắt giữa 52% hộ làm nghề chế biến xả thải và 48% hộ thuần nông bị úng ngập hư hại hoa màu; cùng các lá đơn khiếu nại tập thể của hơn 100 hộ dân liên quan đến chính sách thu hồi đất nông nghiệp làm cụm công nghiệp.

Lý thuyết xã hội rủi ro soi chiếu vấn đề ô nhiễm làng nghề như thế nào?

Theo lý thuyết của Ulrich Beck, ô nhiễm tại Dương Liễu không còn là tai biến thiên nhiên mà là rủi ro nhân tạo do quá trình hiện đại hóa tự gây ra. Lợi ích kinh tế được tích lũy vào nhóm chủ xưởng máy móc, nhưng rủi ro bệnh tật với 43,6% người dân mắc bệnh đường hô hấp và tiêu hóa lại bị phân phối đều cho toàn thể cộng đồng mà không có cơ chế bồi hoàn tương xứng.

Giải pháp then chốt nào giúp cân bằng giữa phát triển kinh tế và an ninh sinh thái?

Giải pháp đột phá là thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn sinh học kết hợp quản trị đa bên. Địa phương cần vận hành trạm xử lý nước thải công suất 20.000 m3/ngày đêm, tái chế 90% phế phẩm bã dong thành phân bón hữu cơ, đồng thời phát huy vai trò giám sát của 100% các tổ chức đoàn thể nhân dân nhằm bảo đảm phát triển bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã chỉ ra thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại làng nghề chế biến nông sản Dương Liễu với 5.000 m3 nước thải hữu cơ và 150 tấn bã thải phát sinh mỗi ngày.
  • Nghiên cứu nhận diện rõ 64,8% sự bất bình của cư dân phi chế biến và các tranh chấp mặt bằng sản xuất tại cụm công nghiệp 34 ha là nguồn cơn gây mất ổn định an ninh xã hội.
  • Công trình chứng minh tác động tiêu cực của suy thoái môi trường làm phát sinh chi phí khắc phục chiếm 8,5% doanh thu và nâng tỷ lệ mắc bệnh dân cư lên 43,6%.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch đất đai, tự quản cộng đồng và kinh tế tuần hoàn đã được đề xuất với lộ trình thực thi rõ ràng giai đoạn 2019-2025.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là làm sâu sắc thêm lý thuyết an ninh phi truyền thống từ góc nhìn xã hội học thực nghiệm, mở ra hướng tiếp cận mới cho quản trị nông thôn hiện đại hóa tại Việt Nam.

Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững và bảo đảm an ninh môi trường nông thôn, các cơ quan quản lý nhà nước, giới nghiên cứu khoa học cùng cộng đồng doanh nghiệp hãy cùng hợp tác triển khai đồng bộ các giải pháp quản trị rủi ro sinh thái ngay hôm nay.